
Từ phương Đông chúng tôi đến bái lạy Người.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
1 Khi Đức Giê-su ra đời tại Bê-lem, miền Giu-đê, thời vua Hê-rô-đê trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giê-ru-sa-lem, 2và hỏi: “Đức Vua dân Do-thái mới sinh, hiện ở đâu ? Chúng tôi đã thấy ngôi sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người.” 3 Nghe tin ấy, vua Hê-rô-đê bối rối, và cả thành Giê-ru-sa-lem cũng xôn xao. 4 Nhà vua liền triệu tập tất cả các thượng tế và kinh sư trong dân lại, rồi hỏi cho biết Đấng Ki-tô phải sinh ra ở đâu. 5 Họ trả lời: “Tại Bê-lem, miền Giu-đê, vì trong sách ngôn sứ, có chép rằng: 6 Phần ngươi, hỡi Bê-lem, miền đất Giu-đa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giu-đa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ít-ra-en dân Ta sẽ ra đời.”
7 Bấy giờ vua Hê-rô-đê bí mật vời các nhà chiêm tinh đến, hỏi cặn kẽ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện. 8 Rồi vua phái các vị ấy đi Bê-lem và dặn rằng: “Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người.” 9 Nghe nhà vua nói thế, họ ra đi. Bấy giờ ngôi sao họ đã thấy ở phương Đông, lại dẫn đường cho họ đến tận nơi Hài Nhi ở, mới dừng lại. 10 Trông thấy ngôi sao, họ mừng rỡ vô cùng. 11 Họ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Ma-ri-a, liền sấp mình thờ lạy Người. Rồi họ mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến. 12 Sau đó, họ được báo mộng là đừng trở lại gặp vua Hê-rô-đê nữa, nên đã đi lối khác mà về xứ mình.
====================
HÀNH TRÌNH TÌM KIẾM CHÚA
Kính thưa cộng đoàn Phụng vụ! Không cuộc hành trình nào mà không gian nan vất vả! Không chặng đường nào mà không đòi buộc chúng ta dấn thân, đặc biệt trên mỗi bước đi tìm kiếm Chân lý cùng đích là chính Chúa.
Tuy nhiên, Thiên Chúa đã tỏ mình ra trước khi chúng ta khởi sự chuyến đi tìm kiếm Ngài. Chính vì vậy, trong ngày lễ Hiển Linh, hay thường được gọi là lễ Ba Vua, chúng ta mừng hát ngợi khen sáng kiến đi bước trước của Thiên Chúa. Ngài không những tỏ mình ra cho dân Do Thái, mà còn biểu lộ chương trình yêu thương, kế hoạch cứu độ cho muôn dân trên khắp cùng bờ cõi trái đất như lời ngôn sứ I-sai-ah tiên báo: “…Vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu toả trên ngươi…còn trên ngươi, Đức Chúa như bình minh chiếu toả, vinh quang Ngài xuất hiện trên ngươi” (x. Is 60, 1. 2). Hơn thế, thánh Tông đồ Phao-lô xác tín với giáo đoàn Ê-phê-sô về sự tỏ lộ mầu nhiệm và kế hoạch ân sủng của Thiên Chúa trong bài đọc II: “Mầu nhiệm này, Thiên Chúa đã không cho những người thuộc các thế hệ trước được biết, nhưng nay Ngài đã dùng Thần Khí mà mặc khải cho các thánh Tông đồ và ngôn sứ của Ngài. Mầu nhiệm đó là: trong Đức Ki-tô Giê-su và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do Thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa” (Ep 3, 5-6).
Thế nhưng, nhìn lại chặng đường nhận biết - ra đi - tìm kiếm Chúa của các nhà chiêm tinh (hoặc ba vua) dường như được ngôn sứ I-sai-ah báo trước “lạc đà từng đàn che rợp đất, lạc đà Ma-đi-an và Ê-pha: tất cả những người từ Sơ-va kéo đến, đều mang theo vàng với trầm hương và loan truyền lời ca tụng Đức Chúa” (Is 60, 6), chúng ta thấy họ gặp biết bao nhiêu khó khăn, ngăn trở, thách đố và kể cả hiểm nguy như đường đi quá xa, đến vùng đất lạ, bị Hê-rê-đô gạt gẫm, sinh mạng bị đe doạ…(x. Mt 2, 1-5. 7-8. 12). Vậy mà họ không hề bỏ cuộc, vẫn tìm kiếm và bước theo ngôi sao lạ dẫn đường. Hơn ai hết, thánh Tông đồ Phao-lô, bậc thầy truyền giáo, hiểu rõ ngôi sao ấy như thế nào, đến nỗi ngài thốt lên: “Giữa thế hệ đó, anh (chị) em hãy chiếu sáng như những vì sao trên vòm trời” (Pl 2, 15). Ngôi sao đó chính là ánh sáng của Chúa dẫn bước đường chúng ta, và mỗi người Ki-tô hữu được mời gọi trở nên ngôi sao chiếu tỏ trong đời sống tốt lành của mình.
Xứ sở Ba Tư lắm huyền thoại kể về cây nến tí hon như sau: Vào buổi tối kia, một người cầm cây nến nhỏ leo lên cầu thang. Thấy vậy, cây nến tí hon hỏi: “Chúng ta đi đâu thế này?” Người cầm nến trả lời: “Lên sân thượng để soi đường cho thuyền bè cập bến an toàn”. Nghe mà muốn cười lộn ruột, cây nến tí hon thì thầm nói khẽ: “Tôi bé tí teo thế này, thì thuyền bè nào mà thấy được ánh sáng của tôi?” Người cầm nến gằn giọng đáp: “Chỉ cần chú mày cố gắng chiếu sáng, mọi chuyện khác để ta lo liệu!” Khi leo lên tới sân thượng, thì ở đó đã có sẵn một chiếc đèn lồng to. Người ấy cầm nến tí hon châm vào ngọn đèn, tức thì một luồng sáng bừng lên, lan toả khắp chung quanh đến tận ngoài biển khơi. Thật vậy, Purnell Bailey nói rất chí lý: “Mỗi chúng ta là những cây nến nhỏ trong tay Chúa. Sứ mạng của ta chỉ là chiếu sáng, còn kết quả thế nào thì hoàn toàn tuỳ thuộc vào Ngài”.
Noi gương các nhà chiêm tinh, chúng ta không bỏ cuộc khi gặp gian nan thử thách. Trong suốt hành trình, một trong vô số thử thách lớn nhất đối với họ có lẽ là khi ngôi sao dẫn đường biến mất. Dù vậy, họ chẳng hề nản lòng, nhục chí, vẫn đăng trình với lòng kiên trì nhẫn nại, với niềm tin trung kiên, và họ đã gặp được Hài Nhi Giê-su nơi hang Bê-lem. Đời sống đức tin cũng vậy, đòi buộc chúng ta dấn thân, kiên vững không ngừng, và nhờ đó chúng ta được nhận ra Thiên Chúa nơi cuộc sống thường nhật của ta. Cũng nên biết rằng: khi tới bên máng cỏ, các nhà chiêm tinh chỉ thấy vỏn vẹn một trẻ sơ sinh, chứ chẳng phải diện kiến một Thiên Chúa vinh quang sáng láng dường bao. Nhưng được Thánh Thần soi dẫn, họ đã nhận biết Hài nhi đơn sơ ấy chính là Con Thiên Chúa, và họ liền bái quỳ thờ lạy, dâng lễ vật là những gì quý giá nhất tại xứ sở họ (vàng, nhũ hương và mộc dược). Đây thực chất là ơn ích phát sinh từ đức tin sống động, bởi lẽ tin không phải chỉ nhìn bằng đôi mắt thể xác, nhưng bằng chính đôi mắt tâm hồn chẳng hề ngờ vực. Ngoài ra, giống như các nhà chiêm tinh, sau khi trở về xứ sở bằng con đường khác được báo mộng, thì họ đã sống hoàn toàn đổi mới. Cuộc gặp gỡ với Hài nhi Giê-su trở nên một bước ngoặt lớn trong đời họ. Điều này không khó hiểu chút nào, bởi lẽ ai đã được gặp gỡ Thiên Chúa thật, dù chỉ một lần, thì không thể sống như trước với tính cách khép kín, với thái độ ngạo nghễ, với lối sống dửng dưng được. Ơn Chúa thúc giục, nâng đỡ chúng ta đổi mới từng ngày trong đời cơ mà!
Cầu nguyện:
Cảm tạ Chúa đã tỏ lộ ơn cứu độ cho muôn dân
Cảm tạ Chúa đã không ngại ngần đến với con hèn
Cảm tạ Chúa đã không do dự đón nhận tấm lòng son,
Và hằng soi tỏ bước đường con đi dù trăm ngàn nguy khó.
Xin cho con trung kiên trở nên ánh sáng
Dù chỉ là ngọn nến nhỏ phía xa
Nhưng được đặt vào đôi tay vĩ đại
Đôi tay ấy chính là Thiên Chúa của lòng con. Amen!
Lm. Xuân Hy Vọng
====================
ÁNH SAO TOẢ CHIẾU, CHỨ KHÔNG VỤT TẮT
Kính thưa cộng đoàn Phụng vụ! Hôm nay, cùng với Giáo hội, chúng ta mừng kính lễ Hiển Linh (tên thường gọi là lễ Ba Vua). Như chúng ta biết, ơn cứu độ của Thiên Chúa không chỉ gói gọn cho dân Do Thái, mà còn được biểu lộ cho toàn thể nhân loại: “…sự sáng của ngươi đã tới, vì vinh quang của Chúa đã bừng dậy trên mình ngươi” (x. Is 60, 1). Ba nhà chiêm tinh (hoặc Ba Vua) từ Đông phương xa xôi có lẽ khác biệt về tôn giáo, văn hoá và ngôn ngữ, nhưng họ được Thiên Chúa tỏ lộ dẫn đường qua ngôi sao lạ. Thật xúc động biết bao khi họ biết mở lòng đón lấy, nhận ra thánh ý Chúa qua tạo vật, qua sở trường hay chuyên môn…của họ.
Theo ngôi sao lạ, rảo bước lên đường như Ba Vua đến chầu Chúa Hài Nhi “…kìa ngôi sao họ xem thấy ở Đông phương, lại đi trước họ, mãi cho tới nơi và đậu lại trên chỗ Hài Nhi ở. Lúc nhìn thấy ngôi sao, họ hết sức vui mừng…” (Mt 2, 9-10), chúng ta cùng nhau tự hỏi bản thân: Ánh sao đời mình là gì/là ai? ‘Ngôi sao’ đời tôi là gì/là ai?
Đối với một số bạn trẻ ngày nay, ‘ngôi sao’ của họ là những ca sỹ, diễn viên điện ảnh, nghệ sỹ trong giới nghệ thuật, cầu thủ nổi tiếng, các doanh nhân ‘ngân khoản đầy tiền, tiếng tăm nổi đình nổi đám’…đến mức khiến các bạn quên cả việc ăn uống - ngủ nghỉ - học hành, hầu chạy theo xu hướng thời thượng của thần tượng mình. Trong thời gian qua, trước khi đại dịch và kể cả sau thời gian bình thường mới, chúng ta chứng kiến biết bao cảnh fan cuồng khóc thét khi gặp “ngôi sao”, và vô số biến cố hy hữu xảy ra. Đơn cử một ví dụ cụ thể: vì mê muội nhóm nhạc K-pop (nhạc pop Hàn Quốc), cô gái trẻ đòi đi xem trực tiếp cho bằng được khi nhóm này đến Sài Gòn lưu diễn. Nghe vậy, ông bố không đồng tình; nhưng bất chấp điều ấy, cô tuyên bố dõng dạc với bố rằng: ‘Con cần ban nhạc này hơn gia đình mình!’ Câu trả lời này khiến ông bố buồn bã như thể chết lặng đi!
Quả thật, sở thích ban nhạc, mến mộ ca sỹ hoặc diễn viên không phải là xấu, nhưng nếu chẳng may tôn họ lên làm ‘chúa/thần’ của đời mình hay đánh đổi tất cả để chạy theo họ thì hành vi ấy chẳng tốt đẹp gì. Hơn nữa, đối với một số khác, ‘ngôi sao’ cuộc đời họ lại là tiền tài, danh vọng, địa vị, quyền cao chức trọng, danh giá, đam mê thú vui, ‘cái bụng’, ‘cái tôi’ của họ! Dù biết rằng những thứ này chẳng phải là cùng đích tối hậu, nhưng trong thực tế, họ để chúng trở nên ‘ông chủ/thần/chúa’ chi phối, điều khiển mọi phương diện cuộc đời họ.
Trong đời người, qua các dấu chỉ thời đại, có biết bao ‘ngôi sao’ đang hiện diện bên cạnh mà chúng ta chẳng hề hay biết, hoặc không chút đoái hoài. Những ‘ngôi sao’ này có thể không sáng chói như chúng ta mường tượng, nhưng lại trợ lực, giúp sức và hữu ích cho cuộc đời chúng ta dường nào. Đó có thể là anh chị em trong gia đình, vợ chồng-con cái, bạn hữu, thầy cô, cha xứ, các sơ, hội đoàn cầu nguyện-bác ái, và hết thảy những ai đồng hành với chúng ta. Trong mối tương quan phu thê, đã bao giờ chồng nói với vợ: Em là ánh sao của đời anh!? Hoặc vợ nói với chồng: Anh là ngôi sao sáng của đời em!? Trong tương quan với cha mẹ, con cái đã từng nói: Bố mẹ chính là ánh sao của cuộc đời con!? Tương tự trong cộng đoàn, hội dòng, giáo xứ; hay chúng ta chỉ nhìn thấy những lỗi lầm, sai phạm của nhau, những điều thiếu sót của nhau để chỉ trích, lên án…?
Một khi nhận ra ‘ngôi sao’ hay ‘ánh sao’ đời mình rồi, chúng ta được mời gọi trở nên ‘ánh sao’ trong đời, qua gương lành thánh thiện, qua cách sống hiền hoà, tử tế, bác ái, vị tha, qua lời ăn tiếng nói, cách hành xử, đối nhân xử thế, qua cử chỉ yêu thương, biết ơn, trân trọng anh chị em như lời trần tình của Thánh Phao-lô Tông đồ: “Thiên Chúa đã ban cho tôi việc phân phát ân sủng cho anh (chị) em, là theo ơn mạc khải cho tôi biết, tôi đã được thấu hiểu mầu nhiệm mà con cái loài người các thế hệ khác không được biết…” (x. Ep 3, 2-3). Sau cùng, ý thức mỗi người cũng được mời gọi trở nên ‘ánh sao’ trong đời, chúng ta phải luôn biết chiếu sáng. Vì chưng, ánh sao vụt tắt, không chiếu rạng thì sẽ chẳng có ích lợi gì. Cũng như ánh sáng, ‘ngôi sao’ phải toả chiếu; tương tự muối mặn để ướp, chứ một khi mất vị mặn thì chỉ bị đổ đi, hoặc bị vứt đi mà thôi.
Để kết thúc bài chia sẻ này, xin mạn phép mượn lời thơ của thi sỹ Tô-ma S. Ê-li-ốt (Thomas Stearns Eliot [1888-1965]) để cùng với quý cộng đoàn, chúng ta nguyện cầu:
‘Nếu bạn không thể là ngôi sao sáng giữa trời,
thì hãy trở nên ánh lửa bập bùng trên non cao!
Nếu bạn không thể là ánh lửa bập bùng trên non cao,
Xin hãy làm ánh nến toả chiếu trong gia đình!’ Amen!
Lm. Xuân Hy Vọng
===================
THIÊN CHÚA ĐI TÌM CON NGƯỜI
Kính thưa quý ông bà và anh chị em thân mến! Thiên Chúa là Đấng quyền năng, vượt trên hết mọi sự. Ngài dùng tất cả mọi phương thế hầu mạc khải ơn cứu độ cho muôn người thuộc mọi thời, mọi nơi. Hôm nay, cùng với Giáo Hội mừng kính lễ Chúa Hiển Linh, chúng ta theo chân các nhà đạo sĩ lên đường đến thờ lạy, dâng kính, tán tụng Chúa Hài Đồng.
Chúng ta thường hay gọi Ba Vua, nhưng thực ra họ là những người chiêm tinh, nhìn trăng sao, nghiên cứu những điềm thiêng dấu lạ, mà qua đó Thiên Chúa muốn mạc khải chương trình Cứu độ của Ngài. Họ là những người biết sử dụng tài năng, tài trí, các phương tiện, trí khôn, tinh hoa thời đó mà tiến bước theo tiếng gọi, lời mời của Thiên Chúa qua những sự kiện gần gũi với cuộc sống của họ. Từ phương Đông, các đất nước xa xôi, họ không ngại gian nan nguy khó, lên đường dù nghìn trùng trắc trở, theo sự hướng dẫn của Thiên Chúa qua ngôi sao lạ, tiến đến Bê-lem để bái thờ, dâng kính Chúa Hài Nhi như tiên tri I-sai-a loan báo “vinh quang của Ðức Chúa như bình minh chiếu toả trên ngươi. Kìa bóng tối bao trùm mặt đất, và mây mù phủ lấp chư dân; còn trên ngươi Ðức Chúa như bình minh chiếu toả, vinh quang Người xuất hiện trên ngươi” (Is 60, 1-2) Thiên Chúa không ẩn mình hay khép kín, hoặc xa lánh con người tội lỗi, nhưng Ngài thổ lộ, mạc khải kế hoạch yêu thương, chương trình cứu độ, và chỉ dẫn chúng ta biết nhận ra Ngài qua mầu nhiệm Nhập thể của Con Một Ngài. Đây không phải là một lời hứa suông, mà chính là ý định của Thiên Chúa được thực hiện qua Đức Ki-tô Giê-su. Hơn nữa, một cách cụ thể, Thánh Phao-lô đã xác tín và trình bày rõ ràng qua thư gửi cho Giáo đoàn Ê-phê-sô “tôi đã được thấu hiểu mầu nhiệm mà con cái loài người các thế hệ khác không được biết, nhưng nay đã mạc khải cho các thánh Tông đồ của Người, và cho các vị Tiên tri, nhờ Thánh Thần. Và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được nên đồng thừa tự, đồng một thân thể và đồng thông phần với lời hứa của Người trong Chúa Giê-su Ki-tô” (Ep 3, 3. 5-6). Một Thiên Chúa gần gũi, luôn đi bước trước dìu dắt, yêu thương trọn hảo, chẳng chê bỏ con người yếu đuối, mỏng dòn, hay xa ngã như chúng ta.
Mặc khác, Thiên Chúa không chờ đợi chúng ta đi tìm Ngài, nhưng Ngài đi tìm chúng ta trước; và còn hướng dẫn, dạy dỗ, chỉ đường cho chúng ta đến với Ngài qua mọi phương tiện, sự kiện, cảm nghiệm, dấu chỉ, kể cả sự cố xảy trong đời chúng ta. Để rồi, nhờ ơn Chúa giúp và sự vâng phục đáp trả lời kêu mời của Ngài, chúng ta nhận biết Ngài, nhận ra chương trình của Ngài trong đời sống, trong mối tương quan, trong những lãnh vực khác nhau, v.v…Thiên Chúa đã dùng dấu chỉ ‘sao trời’, lĩnh vực mà ba nhà đạo sĩ am hiểu mà dẫn đường chỉ lối cho họ tiến đến Bê-lem gặp gỡ Con Thiên Chúa xuống thế làm người, cứu độ nhân loại. Ngược lại, Vua Hê-rô-đê và những người thông luật, am hiểu Kinh Thánh Cựu ước, biết ý định của Chúa qua lời các tiên tri ‘tại Bê-lem thuộc xứ Giu-đa, vì đó là lời do Ðấng Tiên tri đã chép: Cả ngươi nữa, hỡi Bê-lem, đất Giu-đa, không lẽ gì ngươi bé nhỏ hơn hết trong các thành trì của Giu-đa, vì tự nơi ngươi sẽ xuất hiện một thủ lãnh, Người đó sẽ chăn nuôi Israel dân tộc của Ta’ (Mt 2, 5-6), nhưng họ không dùng những phương tiện ấy để nhận ra Thiên Chúa - một vị Thiên Chúa hiện hữu, gần gũi và hằng đi tìm con người. Vì lòng đố kỵ, ‘cái tôi’ mà Vua Hê-rô-đê và các nhà thông luật, đại giáo trưởng đã phớt lờ tiếng gọi của Chúa thúc giục trong tâm hồn họ qua lời Kinh Thánh mà họ nằm lòng. Trong cuộc sống của mỗi người chúng ta, dù tất bật đến đâu, dù bận rộn và thăng trầm, vui buồn sướng khổ, dù ở bậc sống nào chăng nữa, Thiên Chúa cũng mời gọi chúng ta, đi tìm chúng ta, trông chờ chúng ta, biểu lộ chương trình Ngài cho chúng ta và hằng hướng dẫn chúng ta biết nhận ra Ngài; nhưng thật đáng buồn, dường như chúng ta lại trở nên giống Vua Hê-rô-đê, các kỳ lão hơn là ba nhà đạo sĩ vâng phục đáp trả lời mời của Chúa! Vì vậy, chúng ta xem ý định, chương trình, kế hoạch của bản thân, của cộng đoàn, của hội nhóm hơn những điều Chúa muốn, Chúa mong mỏi và biểu lộ hằng ngày qua đời sống cầu nguyện, đời sống phục vụ, tận hiến, truyền giáo cũng như các việc bác ái của chúng ta!
Và khi gặp gỡ Hài Nhi Giê-su cùng với Mẹ Ma-ri-a và thánh Giu-se, ba nhà đạo sĩ đã quỳ gối, bái lạy Ngài, và dâng lên những gì quý giá nhất của họ: vàng, nhũ hương và mộc dược, thể hiện niềm tín thác trọn hảo của họ, lòng cậy trông vô bờ bến cũng như tình yêu son sắt không phai tàn. Còn chúng ta, chúng ta dâng gì cho Chúa Hài Đồng khi được diện kiến Ngài? Lễ vật quý giá của chúng ta là gì? ‘Vàng’ của chúng ta là gì? Có phải lòng yêu Chúa không hề thay đổi và tình mến thương anh chị em vô vị lợi? ‘Nhũ hương’ của chúng ta là chi? Chẳng phải là niềm trông cậy thắm thiết vào chương trình đầy lòng thương xót của Thiên Chúa sao? Và ‘mộc dược’ của chúng ta là gì? Niềm thành tín sâu sắc, chẳng hề nhạt phai chăng?
Mau chân cất bước ra đi,
Ba nhà đạo sĩ ngại gì xa xôi.
Một lòng đáp trả lời mời,
Tiến về hang đá đầy vơi vui mừng.
Con đây mang đến lễ dâng,
‘Vàng’ thì chẳng có, bâng khuâng nỗi niềm.
Đời này vẹn mãi con tim,
Kiên trung, tín thác, kiếm tìm ý Cha.
‘Nhũ hương’ cậy mến bao la,
Trọn đời son sắt, lời ca hát mừng.
Lòng con vang mãi tưng bừng,
‘Mộc dược’ thành tín, hoà cùng muôn dân.
Cảm tạ Tình Chúa tri ân
Sống sao cho trọn, ân cần lòng Cha. Amen!
Lm. Xuân Hy Vọng
====================
CHÚA ‘HIỂN LINH’ TRONG ĐỜI THƯỜNG
Mỗi khi lễ hôm nay, người Việt chúng ta dù ở đâu chăng nữa, cũng thường dùng cụm từ ‘Chúa nhật lễ Ba vua’. Ba vua (ba nhà chiêm tinh hoặc đạo sĩ) từ phương Đông nhận thấy điều gì kỳ lạ xuất hiện trong thời gian Chúa Giê-su hạ sinh. Họ dấn thân nghiên cứu về các ngôi sao bằng những phương tiện thô sơ thời ấy, cũng như với kiến thức chuyên môn của bản thân. Họ tin vào các dấu lạ kỳ diệu đó và không quản ngại lên đường bước theo ngôi sao lạ: “Chúng tôi đã nhận thấy ngôi sao của Ngài ở Ðông phương, và chúng tôi đến để triều bái Ngài” (Mt 2, 2).
Quả thật, nếu hạn từ “Ba vua” là tên gọi nói lên thiện chí của con người, thì “Hiển Linh” lại chính là danh xưng khẳng định hồng ân của Thiên Chúa. Thiện chí thôi, dẫu to lớn đến đâu, vẫn chỉ là khởi điểm; nhưng chính hồng ân Hiển Linh mới là kết điểm mở ra những cuộc gặp gỡ như ngôn sứ I-sai-ah đã tiên báo: “Hãy đứng lên, hãy toả sáng ra, hỡi Giê-ru-sa-lem! Vì sự sáng của ngươi đã tới, vì vinh quang của Chúa đã bừng dậy trên mình ngươi” (Is 60,1).
Và tới phiên mình, mỗi lần gặp gỡ tại kết điểm hành trình, lại là một khởi điểm mới cho hành trình tìm kiếm mới, với những thiện chí mới nhằm vươn lên những đỉnh cao mới. Và gặp gỡ như thế là một cuộc đổi đời. Vì thiện chí luôn tìm kiếm hồng ân, mà cũng vì hồng ân luôn đợi chờ một thiện chí biến đổi cuộc đời như Thánh Tông đồ Phao-lô khẳng định trong thư gửi cho giáo đoàn Ê-phê-sô: “Và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được nên đồng thừa tự, đồng một thân thể và đồng thông phần với lời hứa của Ngài trong Chúa Giê-su Ki-tô” (Ep 3,6). Ba vua gặp Chúa với cả tâm tình được thể hiện qua những lễ vật tiến dâng: “Lúc nhìn thấy ngôi sao, họ hết sức vui mừng. Và khi tiến vào nhà, họ đã gặp thấy Hài Nhi và Bà Ma-ri-a Mẹ Ngài, và họ đã quỳ gối xuống sụp lạy Người. Rồi, mở kho tàng ra, họ đã dâng tiến Người lễ vật: vàng, nhũ hương và một dược” (Mt 2,10-11). Sau đó, họ đã được soi sáng theo đường khác mà về xứ sở. Và ở đó, những cuộc Hiển Linh mới sẽ diễn biến trong đời sống thường ngày.
Truyện kia được kể lại rằng: Một cụ già nổi tiếng là người am hiểu thâm sâu. Tuy ông học hành ít ỏi, nhưng lại sở hữu kiến thức uyên bác. Nhiều người xa gần đến thăm ông và bàn luận với ông nhiều vấn đề cao xa. Trong số đó, có một giáo sư khá nổi tiếng, cũng ngạc nhiên và hỏi ông:
– Ở đâu mà ông biết những điều này? Tôi chưa thấy cuốn sách nào viết về chúng.
Ông cụ thản nhiên chậm rãi đáp:
– Hàng ngày tôi đọc ba cuốn sách mà bất cứ ai cũng có thể đọc. Cuốn thứ nhất là những việc Chúa làm quanh tôi; cuốn thứ hai là lương tâm của tôi; và cuốn thứ ba là Kinh Thánh.
Thật vậy, cụ già này cũng như ba nhà chiêm tinh từ Đông phương giống nhau ở chỗ: họ không cậy dựa vào kiến thức/chuyên môn mình đắc thủ, mà trái lại, biết dùng những phương thế (như: kiến thức, các biến cố trong đời) mà mở rộng lòng đón nhận ‘Hiển Linh’ (mọi điều Chúa tỏ lộ) trong cuộc sống thường ngày. Để làm được như vậy, tiên vàn chúng ta cần thiện chí, cần một tâm hồn sẵn sàng đón nhận hồng ân Chúa cũng như bao thử thách kèm theo. Vì chưng, chẳng phải lúc nào ba nhà chiêm tinh cũng lên đường an nhàn, thuận lợi; có khi ngôi sao lạ dẫn đường biến mất, còn đường xá thì xa xôi gập ghềnh, hiểm nguy, và thời gian tìm kiếm lại càng dài hun hút! Do đó, tìm kiếm Chúa với tâm hồn đầy thiện chí, với tâm thế tin tưởng Ngài cũng đang ‘tỏ lộ’ (Hiển Linh) cho chúng ta, thì ắt hẳn chúng ta cũng sẽ được gặp Ngài như ba nhà chiêm tinh “đã diện kiến Hài Nhi và Bà Ma-ri-a Mẹ Ngài, và họ đã quỳ gối xuống sụp lạy Ngài” (x. Mt 2,10).
Cuộc gặp gỡ, diện kiến nào cũng sẽ giúp chúng ta biến đổi ít nhiều. Ba nhà chiêm tinh đã thấy tận mắt, bèn bái thờ Hài Nhi và dâng tiến lễ vật ‘vàng, nhũ hương, mộc dược’ biểu lộ rằng: họ tùng phục, thờ lạy Chúa Giê-su Hài Đồng chính là Vua, là Thiên Chúa và là con người thật. Ngài dẫu là Thiên Chúa, những đã mặc lấy xác phàm hạ sinh, cứu độ nhân loại. Ngài vừa là vương đế (biểu tượng ‘vàng’), vừa là tư tế (biểu tượng ‘nhũ hương’), vừa là hy tế (biểu tượng ‘mộc dược’). Vì thế, mỗi lúc tuyên tín, yêu mến, sống đức tin là lúc chúng ta dâng hiến cho Chúa, chia san với anh chị em và đón nhận mọi sự Ngài tỏ lộ (Hiển Linh). Thật vậy, một danh ngôn tiếng Anh hẳn không sai: “You can give without loving, but you can’t love without giving”. Tạm dịch là: "Bạn có thể cho mà không yêu, nhưng bạn không thể yêu mà không cho đi”. Nếu chúng ta yêu Chúa, mà lại không mến anh chị em, không biết sẻ chia, không biết cho đi, không biết cảm thông, không biết đón nhận, v.v…thì chắc hẳn chúng ta phải xem lại tình mến của mình đối với Chúa!
Cầu nguyện:
Cảm tạ Chúa luôn kiếm tìm
Trước khi chúng con tìm kiếm Chúa.
Cảm tạ Chúa luôn tỏ lộ
Trong lúc chúng con vẫn còn loay hoay:
Nên tiến bước hay dừng ngay?
Ra đi rao truyền, tháng ngày chia san!
Nguyện cho lòng con hân hoan
Hiển Linh ơn thánh chứa chan muôn người. Amen!
Lm. Xuân Hy Vọng
===================
Qua Lời Tổng Nguyện của Lễ Chúa Hiển Linh hôm nay, các nhà phụng vụ muốn chúng ta ý thức rằng: Hôm nay Chúa đã khiến ngôi sao chỉ đường mà mặc khải cho muôn dân nhận biết Con Một Chúa. Phần chúng ta đã nhận biết Chúa nhờ đức tin dẫn lối đưa đường, xin Chúa rủ lòng thương đưa chúng ta về chiêm ngưỡng Thánh Nhan vinh hiển.
Nhận biết Chúa nhờ đức tin dẫn lối đưa đường: tất cả quy tụ thành một dân duy nhất, dân thánh của Thiên Chúa, như trong bài đọc một của giờ Kinh Sách, trích sách ngôn sứ Isaia: Giêrusalem là nơi quy tụ toàn thể các nước. Chính sự hiện diện của Thiên Chúa lôi kéo các nước vào Thành Thánh. Đối với Hội Thánh hôm nay, chính khi để cho thấy sự hiện diện của Thiên Chúa, Hội Thánh hoàn thành ơn gọi của mình. Dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần, Hội Thánh lôi kéo tất cả mọi người để hình thành một dân mới bao gồm những người công chính... Bừng sáng lên, Giêrusalem hỡi, bừng sáng lên, vì ánh sáng của ngươi đã đến rồi. Vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu tỏa trên ngươi. Chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước.
Nhận biết Chúa nhờ đức tin dẫn lối đưa đường: các dân ngoại sẽ nhận biết ơn cứu độ của Chúa, và đến triều bái Người, như trong bài đọc hai của giờ Kinh Sách, trích bài giảng của thánh Lêô Cả: Chúa làm cho khắp cả hoàn cầu nhận biết ơn cứu độ của Người... Hôm nay quả là ngày tươi sáng, ngày xuất hiện Đấng cứu độ trần gian, Đấng Cứu Độ các ngôn sứ thuở xưa báo trước, và các thiên sứ thờ lạy Đấng Cứu Độ. Thấy ngôi sao của Người xuất hiện, các hiền sĩ rất đỗi mừng vui, và đem lễ phẩm đến triều bái. Ngày được Thiên Chúa thánh hiến đã chiếu tỏa trên chúng ta, muôn dân hỡi, mau đến thờ lạy Chúa.
Nhận biết Chúa nhờ đức tin dẫn lối đưa đường: muôn dân nước sẽ quy hướng về ánh sáng cứu độ trần gian, như trong bài đọc một của Thánh Lễ, trích sách ngôn sứ Isaia: Đứng lên, bừng sáng lên, Giêrusalem hỡi, vì ánh sáng của ngươi đến rồi. Vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu tỏa trên ngươi. Trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 71: Lạy Chúa, muôn dân nước sẽ thờ lạy Ngài. Tâu Thượng Đế, xin ban quyền bính Ngài cho vị Tân Vương, trao công lý Ngài vào tay Thái Tử, để Tân Vương xét xử dân Ngài theo công lý, và bênh vực quyền lợi kẻ nghèo hèn. Trong bài đọc hai của Thánh Lễ, trích thư của thánh Phaolô tông đồ gửi tín hữu Êphêxô: Nay mầu nhiệm được mặc khải là các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp.
Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Chúng tôi đã thấy ngôi sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người. Trong bài Tin Mừng, các nhà chiêm tinh nói: Từ phương Đông chúng tôi đến bái lạy Người. Ánh sáng ơn cứu độ đã bừng lên quy tụ muôn dân nước về hưởng ân lộc Chúa. Trong Đức Kitô, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp, và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa: Từ Tácsít và hải đảo xa xăm, hàng vương giả sẽ về triều cống. Cả những vua Ảrập, Xơva, cũng đều tới tiến dâng lễ vật. Mọi quân vương phủ phục trước bệ rồng, muôn dân nước thảy đều phụng sự. Vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu tỏa trên Giêrusalem mới, là Hội Thánh. Muôn dân nước sẽ đi về phía ánh sáng của Hội Thánh, vua chúa hướng về ánh bình minh của Hội Thánh mà tiến bước. Toàn thể các dân tộc tiến vào, gia nhập gia đình các tổ phụ; các con cháu sinh ra do lời hứa: Thiên Chúa đã làm cho tất cả mọi người nên xứng đáng chung hưởng phần gia nghiệp của các thánh trong cõi đầy ánh sáng. Hôm nay Chúa đã khiến ngôi sao chỉ đường mà mặc khải cho muôn dân nhận biết Con Một Chúa. Chúng ta đã nhận biết Chúa nhờ đức tin dẫn lối đưa đường, ước gì Chúa rủ lòng thương đưa chúng ta về chiêm ngưỡng Thánh Nhan vinh hiển. Ước gì được như thế!
Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB
====================
HÀNH TRÌNH ĐỨC TIN VÀ SỰ THỜ LẠY ĐÍCH THỰC
Khi Đức Giêsu ra đời tại Bêlem, miền Giuđê, thời vua Hêrôđê trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giêrusalem. Lời mở đầu của Thánh Sử Mátthêu không chỉ đơn thuần là một thông báo về một sự kiện lịch sử, mà còn là một lời mời gọi sâu sắc, mở ra một bức tranh toàn cảnh về ơn cứu độ phổ quát. Hình ảnh các nhà chiêm tinh từ phương Đông là một hình ảnh mang tính biểu tượng vô cùng mạnh mẽ. Họ không phải là người Do Thái, không thuộc dân riêng của lời hứa, không lớn lên với Kinh Thánh và lề luật. Họ là dân ngoại, là đại diện cho toàn thể nhân loại, cho tất cả những nền văn hóa, những chủng tộc, những con người đang sống trong muôn vàn nẻo đường của thế giới. Họ đại diện cho khát vọng sâu thẳm nhất trong tâm hồn con người: khát vọng tìm kiếm chân lý, tìm kiếm ý nghĩa tối hậu của cuộc đời, tìm kiếm một Đấng Siêu Việt có thể lấp đầy những trống vắng trong cõi lòng. Họ là những con người của khoa học, của tri thức, những người ngày đêm quan sát bầu trời, nghiên cứu các vì sao, tìm kiếm quy luật của vũ trụ. Nhưng tri thức của họ không đóng khung họ trong sự kiêu ngạo, mà ngược lại, nó mở cho họ một cánh cửa đến với những điều vượt xa hơn tầm hiểu biết của lý trí. Họ nhận ra rằng vũ trụ này không phải là một cỗ máy vô hồn, nhưng ẩn chứa trong đó những dấu chỉ, những thông điệp của một Đấng Tạo Hóa vô hình. Và rồi, một dấu chỉ đặc biệt đã xuất hiện: một ngôi sao lạ. Ngôi sao ấy không giống bất kỳ ngôi sao nào họ từng biết. Nó không chỉ là một hiện tượng thiên văn, mà còn là một lời mời gọi, một tiếng thì thầm từ trời cao. Ánh sao đó chính là biểu tượng của ơn soi sáng ban đầu của Thiên Chúa, một tia sáng đức tin được gieo vào những tâm hồn thành tâm thiện chí, những người không ngừng tìm kiếm. Đức tin của các nhà chiêm tinh bắt đầu từ đó, từ sự nhạy bén để nhận ra dấu chỉ của Chúa giữa muôn vàn những sự kiện của cuộc sống, và từ sự can đảm để đáp lại lời mời gọi ấy.
Họ hỏi: "Đức Vua dân Do Thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người." Câu hỏi của họ không phải là một câu hỏi của sự tò mò, mà là một lời tuyên xưng đức tin. Giữa lòng Giêrusalem, trung tâm quyền lực chính trị và tôn giáo của người Do Thái, những người ngoại bang này lại đến tìm một vị Vua mới sinh. Họ không tìm kiếm một vị vua theo kiểu trần thế, một người sẽ giải phóng dân tộc bằng gươm giáo. Họ tìm kiếm một Đấng để "bái lạy". Hành động bái lạy này cho thấy họ nhận ra Đấng họ tìm kiếm không chỉ là một vị vua trần thế, mà còn mang một phẩm giá siêu việt, một phẩm giá thần linh. Hành trình của họ là một hành trình đức tin đích thực, một cuộc lữ hành đầy gian nan và thử thách. Hãy tưởng tượng quãng đường từ phương Đông, có thể là từ Ba Tư hay Babylon, đến Giuđê. Đó là một hành trình dài hàng ngàn cây số, xuyên qua sa mạc hoang vu, đối mặt với bao hiểm nguy, từ thú dữ, cướp bóc cho đến sự khắc nghiệt của thời tiết. Họ đã phải từ bỏ quê hương, gia đình, công việc, từ bỏ sự an toàn và tiện nghi quen thuộc để dấn thân vào một cuộc phiêu lưu mà đích đến còn rất mơ hồ. Động lực nào đã thúc đẩy họ? Đó chính là sức mạnh của niềm tin, một niềm tin được thắp lên bởi một ánh sao. Họ đã tin vào dấu chỉ, và họ đã hành động dựa trên niềm tin ấy. Đây là bài học đầu tiên và căn bản nhất của đời sống đức tin: đức tin không phải là một mớ lý thuyết suông, mà là một sự dấn thân, một hành động cụ thể. Đức tin đòi hỏi chúng ta phải "lên đường", phải ra khỏi cái vỏ ốc an toàn của chính mình, ra khỏi những thói quen, những định kiến, những vùng an toàn để đi về phía Chúa, dù cho con đường phía trước có vẻ mờ mịt và đầy bất trắc. Nhiều khi trong cuộc sống, Chúa cũng gieo vào lòng chúng ta những "ánh sao" như thế: một biến cố đặc biệt, một lời nói đánh động tâm hồn, một tấm gương sống của ai đó, một đoạn Kinh Thánh chạm đến cõi lòng. Vấn đề là chúng ta có đủ nhạy bén để nhận ra và đủ can đảm để lên đường như các nhà chiêm tinh hay không.
Nghe tin ấy, vua Hêrôđê bối rối, và cả thành Giêrusalem cũng xôn xao theo. Phản ứng của Hêrôđê và dân thành Giêrusalem là một sự tương phản hoàn toàn với thái độ của các nhà chiêm tinh, tạo nên một bức tranh đối lập giữa ánh sáng và bóng tối. Hêrôđê, một vị vua đầy quyền lực nhưng cũng đầy bất an. Ông không phải là người Do Thái chính gốc, ông có được ngai vàng là nhờ sự chống lưng của đế quốc Rôma. Vì thế, ông luôn sống trong nỗi lo sợ bị lật đổ. Bất kỳ ai, bất kỳ điều gì có thể đe dọa đến quyền lực của ông đều khiến ông bối rối và tìm cách tiêu diệt. Tin tức về một "Đức Vua dân Do Thái mới sinh" đối với ông không phải là một tin mừng, mà là một mối đe dọa trực tiếp. Cõi lòng của Hêrôđê đã bị bóng tối của quyền lực, của sự ích kỷ và sợ hãi bao phủ. Ông không có khả năng nhìn thấy ánh sao, không có khả năng nhận ra chương trình của Thiên Chúa. Thay vì vui mừng đón nhận Đấng Cứu Thế, ông lại tìm cách loại trừ Ngài. Sự bối rối của ông lan ra "cả thành Giêrusalem". Tại sao cả thành lại xôn xao? Giêrusalem là trung tâm tôn giáo, là nơi có Đền Thờ, nơi các tư tế và kinh sư hằng ngày dâng lễ tế và nghiên cứu Lời Chúa. Đáng lẽ ra, họ phải là những người vui mừng nhất khi nghe tin Đấng Cứu Thế, Đấng mà bao thế hệ cha ông họ đã trông đợi, nay đã ra đời. Nhưng không, họ đã xôn xao, một sự xôn xao không phải vì vui mừng mà vì lo lắng, vì sợ những biến động chính trị có thể ảnh hưởng đến cuộc sống yên ổn của họ. Họ đã quá quen với sự cai trị của Hêrôđê và đế quốc Rôma, họ sợ rằng sự xuất hiện của một vị vua mới sẽ gây ra chiến tranh, đổ máu. Cõi lòng của họ đã trở nên chai sạn, nguội lạnh. Họ có Lời Chúa, họ biết lời tiên tri, nhưng họ thiếu đi ngọn lửa của sự khao khát, thiếu đi niềm vui của sự trông đợi. Sự dửng dưng, thờ ơ của họ còn đáng sợ hơn cả sự chống đối của Hêrôđê. Đó là bi kịch của những người ở gần Chúa nhất mà lại không nhận ra Ngài.
Vua Hêrôđê liền triệu tập tất cả các thượng tế và kinh sư trong dân lại, rồi hỏi cho biết Đấng Kitô phải sinh ra ở đâu. Họ trả lời: "Tại Bêlem, miền Giuđê, vì trong sách ngôn sứ, có chép rằng: Phần ngươi, hỡi Bêlem, miền đất Giuđa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giuđa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ítraen dân Ta sẽ ra đời." Ở đây, một sự trớ trêu đến đỉnh điểm được phơi bày. Chính những kẻ chống đối và dửng dưng lại là những người nắm rõ Kinh Thánh nhất. Các thượng tế và kinh sư có thể trích dẫn lời tiên tri của ngôn sứ Mikha một cách chính xác. Họ biết rõ về nơi Đấng Cứu Thế sẽ sinh ra. Kiến thức tôn giáo của họ rất uyên bác. Thế nhưng, kiến thức đó đã không dẫn họ đến với hành động. Họ chỉ cho các nhà chiêm tinh đường đến Bêlem, nhưng chính họ lại không cất bước lên đường. Họ giống như những người chỉ đường nhưng lại không đi trên con đường đó. Kiến thức Kinh Thánh của họ chỉ dừng lại ở trên môi, ở trong đầu, chứ không đi vào trong tim, không biến thành hành động của cuộc đời. Đây là một lời cảnh báo nghiêm khắc cho mỗi chúng ta. Chúng ta có thể thuộc rất nhiều kinh, hiểu biết nhiều về giáo lý, tham gia nhiều sinh hoạt tôn giáo, nhưng nếu tất cả những điều đó không biến đổi con người chúng ta, không thúc đẩy chúng ta lên đường tìm kiếm Chúa và gặp gỡ Ngài, thì chúng ta cũng chẳng khác gì các kinh sư và thượng tế năm xưa. Đức tin không phải là kiến thức, mà là sự gặp gỡ. Trong khi đó, các nhà chiêm tinh, những người ngoại bang, lại cho thấy một thái độ hoàn toàn khác. Khi ánh sao, dấu chỉ ban đầu, biến mất khi họ đến Giêrusalem, đức tin của họ gặp thử thách. Họ đã có thể nản lòng, cho rằng mình đã sai lầm và quay trở về. Nhưng không, họ đã không bỏ cuộc. Họ đã khiêm tốn tìm kiếm một nguồn soi sáng khác: đó là Lời Chúa được lưu truyền trong dân riêng của Ngài. Họ đã đi hỏi. Sự khiêm tốn này là một nhân đức nền tảng của hành trình đức tin. Họ không tự mãn với tri thức của mình, mà biết rằng mình cần đến sự chỉ dẫn. Đức tin cá nhân, dù mạnh mẽ đến đâu, cũng cần được bổ túc và soi sáng bởi kho tàng đức tin của Hội Thánh, của cộng đoàn. Hành động của họ cho thấy một sự phối hợp tuyệt vời giữa dấu chỉ của thiên nhiên (ánh sao) và ánh sáng của Lời Chúa (Kinh Thánh).
Bấy giờ, vua Hêrôđê bí mật vời các nhà chiêm tinh đến, hỏi cặn kẽ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện. Rồi vua phái các vị ấy đi Bêlem và dặn rằng: "Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho trẫm, để trẫm cũng đến bái lạy Người." Lòng dạ của Hêrôđê ngày càng bộc lộ rõ sự gian ác và giả dối. Ông ta dùng những lời lẽ đạo đức, thánh thiện để che đậy cho một âm mưu đen tối. "Để trẫm cũng đến bái lạy Người" - một lời nói dối trắng trợn. Ông ta muốn biết chính xác nơi Hài Nhi ở không phải để thờ lạy, mà là để tiêu diệt. Đây là hình ảnh của sự lạm dụng tôn giáo một cách tinh vi và nguy hiểm nhất. Hêrôđê đã biến những điều thánh thiêng, biến chính Lời Chúa, biến hành vi thờ phượng thành công cụ để phục vụ cho mục đích ích kỷ và độc ác của mình. Bóng tối trong lòng ông ta đã lên đến đỉnh điểm. Trong thế giới hôm nay, vẫn có đó những Hêrôđê thời hiện đại. Đó là những người nhân danh Thiên Chúa, nhân danh tôn giáo để gây chia rẽ, hận thù, để trục lợi cá nhân, để củng cố quyền lực. Đó là những người nói lời yêu thương nhưng trong lòng đầy ghen ghét, nói lời khiêm tốn nhưng tâm hồn đầy kiêu ngạo. Họ là những con sói đội lốt chiên, gây ra những gương mù gương xấu, làm tổn hại đến hình ảnh của Hội Thánh và làm cho nhiều người xa lánh Thiên Chúa. Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta phải tỉnh táo và sáng suốt để nhận ra những bộ mặt giả dối đó, và quan trọng hơn, là phải xét lại chính cõi lòng mình. Có khi nào chúng ta cũng hành động như Hêrôđê, dùng việc đi lễ, đọc kinh như một cái vỏ bọc để che giấu một đời sống thiếu bác ái, thiếu công bằng, thiếu thành thật hay không? Có khi nào chúng ta cầu nguyện chỉ để xin Chúa thực hiện ý riêng của mình, thay vì tìm kiếm và thi hành thánh ý Chúa hay không?
Nghe nhà vua nói thế, họ ra đi. Bấy giờ, ngôi sao họ đã thấy ở phương Đông, lại dẫn đường cho họ, cho đến tận nơi Hài Nhi ở, mới dừng lại. Trông thấy ngôi sao, họ mừng rỡ vô cùng. Rời khỏi cung điện của Hêrôđê, rời khỏi cái không khí ngột ngạt của sự giả dối và âm mưu, các nhà chiêm tinh lại thấy ánh sao xuất hiện. Ánh sao đã biến mất khi họ ở trong môi trường của quyền lực và toan tính trần thế, và nay lại xuất hiện khi họ tiếp tục hành trình đức tin với một con tim trong sáng và khao khát. Đây là một chi tiết rất ý nghĩa. Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi những ai thành tâm tìm kiếm Ngài. Khi chúng ta gặp thử thách, khi cảm thấy đức tin của mình ra như lu mờ, chỉ cần chúng ta kiên trì bước tới, Thiên Chúa sẽ lại ban cho chúng ta ánh sáng để dẫn đường. Thánh Mátthêu diễn tả niềm vui của họ một cách thật đặc biệt: "họ mừng rỡ vô cùng". Đây không phải là một niềm vui bình thường, hời hợt. Đây là niềm vui sâu xa, vỡ òa của người đã trải qua một hành trình dài gian khó và cuối cùng đã đạt đến đích. Đó là niềm vui của người tìm thấy kho báu, tìm thấy viên ngọc quý. Đó là niềm vui của ơn cứu độ, niềm vui được gặp gỡ chính nguồn mạch của mọi niềm vui. Niềm vui này là phần thưởng cho lòng kiên trì và đức tin của họ. Trong đời sống Kitô hữu, chúng ta cũng có những khoảnh khắc được cảm nghiệm niềm vui như thế: niềm vui sau một giờ cầu nguyện sốt sắng, niềm vui khi lãnh nhận ơn tha thứ qua Bí tích Hòa giải, niềm vui khi được rước Chúa Giêsu Thánh Thể, niềm vui khi làm được một việc tốt cho tha nhân. Đó là những avant-goût, những nếm trải trước niềm vui Nước Trời. Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy tìm kiếm niềm vui đích thực này, một niềm vui mà thế gian không thể ban tặng và cũng không thể lấy đi được.
Họ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Maria, liền sấp mình bái lạy Người. Hình ảnh các nhà chiêm tinh, những con người trí thức, giàu có, có địa vị, đã không ngần ngại "sấp mình" trước một Hài Nhi bé nhỏ, nằm trong một ngôi nhà đơn sơ ở một làng quê hẻo lánh, cho thấy một sự đảo lộn mọi giá trị của trần gian. Họ đã không tìm thấy một vị vua trong cung điện nguy nga, mà trong sự nghèo khó và đơn sơ. Nhưng chính trong sự bé nhỏ đó, họ đã nhận ra sự vĩ đại của Thiên Chúa. Đức tin của họ đã vượt qua những biểu hiện bên ngoài để chạm đến bản chất thần linh bên trong. Hành động "sấp mình bái lạy" là tột đỉnh của hành trình đức tin. Đó là hành vi của một đức tin trưởng thành, một đức tin không chỉ là sự chấp nhận bằng lý trí, mà là sự quy phục của toàn thể con người – cả tâm hồn và thân xác – trước Đấng Tối Cao. "Sấp mình" là hành động thừa nhận thân phận thụ tạo của mình trước Đấng Tạo Hóa, thừa nhận sự nhỏ bé của con người trước sự vô biên của Thiên Chúa. Đó là sự khiêm tốn sâu xa nhất, là sự từ bỏ cái tôi kiêu ngạo để Thiên Chúa được tôn vinh. Trong một thế giới đề cao cái tôi, đề cao sự tự chủ, hành động sấp mình thờ lạy dường như là một điều xa lạ, thậm chí là yếu đuối. Nhưng đối với người có đức tin, đó lại là hành động cao cả nhất, giải thoát con người khỏi xiềng xích của sự ích kỷ và đưa con người vào trong mối tương quan đúng đắn với Thiên Chúa. Chúng ta có thường xuyên "sấp mình" trước Chúa trong cầu nguyện không? Hay chúng ta chỉ đến với Chúa như một người ngang hàng, chỉ để đòi hỏi, kể lể? Thái độ thờ phượng của các nhà chiêm tinh là một lời nhắc nhở về sự cần thiết phải có lòng tôn kính, sự khiêm hạ và tâm tình thờ lạy đích thực khi chúng ta đến trước nhan thánh Chúa, đặc biệt là trong Bí tích Thánh Thể.
Rồi họ mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến. Sau hành vi thờ lạy bằng cả con người, các nhà chiêm tinh tiếp tục thờ lạy Chúa bằng những lễ vật quý giá nhất của mình. Những lễ vật này không chỉ mang giá trị vật chất, mà còn chứa đựng một ý nghĩa biểu tượng vô cùng sâu sắc, tóm kết toàn bộ mầu nhiệm về Đức Kitô và cũng là lời mời gọi về chính đời sống của người tín hữu. Vàng, kim loại quý giá nhất, là lễ vật xứng đáng dâng lên một vị Vua. Dâng vàng là tuyên xưng Đức Giêsu là Vua, không chỉ là Vua dân Do Thái, mà là Vua của toàn thể vũ trụ, Vua của cõi lòng mỗi người. Đối với chúng ta, "vàng" đó chính là đức ái, là lòng bác ái. Vàng là những gì quý giá nhất chúng ta có thể dâng cho Chúa. Đó là thời giờ, tài năng, của cải, sức lực mà chúng ta dùng để phục vụ anh em, đặc biệt là những người nghèo khổ, bị bỏ rơi. Khi chúng ta thực thi bác ái, chúng ta đang dâng lên Chúa "vàng" của cuộc đời mình. Nhũ hương là một loại nhựa cây thơm, khi đốt lên sẽ tỏa ra một làn khói thơm ngát, được dùng trong các nghi lễ thờ phượng. Nhũ hương tượng trưng cho thần tính. Dâng nhũ hương là tuyên xưng Đức Giêsu là Thiên Chúa thật, Đấng đáng được phụng thờ. Đối với chúng ta, "nhũ hương" đó chính là đời sống cầu nguyện. Lời cầu nguyện của chúng ta, những tâm tình chúc tụng, tạ ơn, thờ lạy bay lên trước tòa Chúa như làn khói hương thơm. Một đời sống cầu nguyện sốt sắng, một tâm hồn luôn hướng về Chúa chính là lễ vật nhũ hương quý giá nhất chúng ta có thể dâng tiến. Cuối cùng là mộc dược, một loại nhựa thơm đắng, được dùng để ướp xác người chết. Mộc dược là một lời tiên báo về cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa Giêsu. Dâng mộc dược là nhìn nhận Đức Giêsu là Con Người thật, Đấng đã đến để chịu đau khổ và chịu chết để cứu chuộc nhân loại. Đối với chúng ta, "mộc dược" đó chính là những hy sinh, đau khổ, thử thách trong cuộc sống hàng ngày. Đó là những bệnh tật, thất bại, những hiểu lầm, những gánh nặng của bổn phận. Khi chúng ta biết vui lòng chấp nhận và kết hợp những đau khổ đó với cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, chúng ta đang dâng lên Ngài lễ vật mộc dược, biến những điều đắng cay của cuộc đời thành hương thơm cứu độ. Như vậy, ba lễ vật vàng, nhũ hương và mộc dược tóm kết trọn vẹn đời sống của một Kitô hữu: một đời sống được xây dựng trên ba trụ cột là Bác ái (vàng), Cầu nguyện (nhũ hương) và Hy sinh (mộc dược).
Sau đó, họ được báo mộng là đừng trở lại gặp vua Hêrôđê nữa, nên đã đi lối khác mà về xứ mình. Câu kết của trình thuật là một chi tiết vô cùng quan trọng, nói lên hệ quả tất yếu của việc gặp gỡ Đức Kitô. Việc gặp gỡ Chúa một cách đích thực luôn luôn dẫn đến một sự biến đổi, một sự hoán cải. Người ta không thể gặp Chúa rồi mà vẫn trở về bằng con đường cũ, vẫn giữ nguyên con người cũ, lối sống cũ. "Trở lại gặp vua Hêrôđê" có nghĩa là quay trở lại với con đường của thế gian, con đường của sự giả dối, của âm mưu, của bạo lực, của sự sợ hãi và ích kỷ. Đó là con đường của bóng tối. "Đi lối khác mà về xứ mình" có nghĩa là bước vào một con đường mới, một lối sống mới. Đó là con đường của Tin Mừng, con đường của sự thật, của tình yêu, của sự tha thứ, của sự khiêm tốn và phục vụ. Đó là con đường của ánh sáng. Các nhà chiêm tinh đã vâng theo lời "báo mộng", tức là vâng theo sự hướng dẫn của Thiên Chúa, để từ bỏ con đường cũ và bước đi trên con đường mới. Sự biến đổi này là hoa trái của cuộc gặp gỡ thần linh. Cuộc gặp gỡ với Hài Nhi Giêsu đã thay đổi hoàn toàn hướng đi của cuộc đời họ. Lễ Hiển Linh, vì thế, không chỉ là lễ kính nhớ một sự kiện quá khứ, mà còn là một lời mời gọi hoán cải cho mỗi chúng ta hôm nay. Mỗi Thánh lễ chúng ta tham dự là một cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu. Mỗi lần chúng ta cầu nguyện, đọc Lời Chúa là một cơ hội để ánh sao của Chúa soi dẫn. Câu hỏi đặt ra cho mỗi người là: Sau mỗi cuộc gặp gỡ đó, chúng ta có "đi lối khác mà về" không? Hay chúng ta vẫn quay trở lại với "con đường của Hêrôđê" trong cuộc sống, với những thói quen xấu, những đam mê tội lỗi, những ghen ghét, giận hờn, những tính toán ích kỷ? Con đường mới mà Chúa muốn tôi đi trong năm nay là gì? Có thể đó là con đường của sự tha thứ cho một người đã làm tổn thương tôi. Có thể đó là con đường của sự kiên nhẫn hơn với vợ chồng, con cái. Có thể đó là con đường của sự trung thực hơn trong công việc, của sự quảng đại hơn với người nghèo. Xin Chúa cho mỗi chúng ta, noi gương các nhà chiêm tinh, biết can đảm lên đường tìm kiếm Chúa, kiên trì vượt qua thử thách, khiêm tốn thờ lạy Ngài, quảng đại dâng tiến lễ vật cuộc đời, và nhất là, sau mỗi lần gặp gỡ Chúa, biết can đảm từ bỏ con đường cũ để bước đi trên con đường mới của Tin Mừng, trở nên những chứng nhân sống động của Chúa cho thế giới hôm nay. Amen.
Lm. Anmai, CSsR
===================
ÁNH SÁNG CHIẾU SOI TRONG ĐÊM TỐI VÀ NHỮNG PHẢN ỨNG CỦA CÕI LÒNG
Trình thuật Tin Mừng theo Thánh Mátthêu về cuộc viếng thăm của các nhà chiêm tinh là một trong những trang Tin Mừng giàu hình ảnh và kịch tính nhất. Nó không chỉ đơn thuần kể lại một câu chuyện, mà còn dựng lên một sân khấu lớn, nơi ánh sáng và bóng tối đối đầu nhau một cách quyết liệt. Ánh sáng vĩnh cửu của Thiên Chúa, được biểu tượng hóa qua ngôi sao lạ, đã chiếu soi vào trần gian, nhưng không phải cõi lòng nào cũng mở ra để đón nhận.
Trái lại, ánh sáng ấy đã làm phơi bày những gì ẩn giấu trong sâu thẳm tâm hồn con người, tạo ra những phản ứng hoàn toàn trái ngược nhau. Cùng một tin tức về sự ra đời của Đấng Cứu Thế, nhưng đã có ba thái độ, ba phản ứng khác nhau: sự khao khát tìm kiếm của các nhà chiêm tinh, sự bối rối và độc ác của vua Hêrôđê, và sự xôn xao nhưng dửng dưng của cả thành Giêrusalem.
Ba thái độ đó không chỉ thuộc về quá khứ, mà vẫn luôn hiện diện trong thế giới và trong chính cõi lòng của mỗi chúng ta hôm nay. Lễ Hiển Linh mời gọi chúng ta soi rọi lại cõi lòng mình dưới ánh sáng của ngôi sao Bêlem, để xem chúng ta đang đứng ở đâu trong vở kịch vĩ đại giữa ánh sáng và bóng tối này. Chúng ta là ai: là những nhà chiêm tinh đang thao thức lên đường, là Hêrôđê đang cố thủ trong bóng tối của quyền lực, hay là đám đông dân thành Giêrusalem đang chìm trong sự thờ ơ đáng sợ? Sự lựa chọn ấy quyết định toàn bộ hướng đi của cuộc đời chúng ta.
Trước hết, chúng ta hãy chiêm ngắm cõi lòng của các nhà chiêm tinh, một cõi lòng rực sáng của niềm khao khát và sự cởi mở. Thánh sử Mátthêu gọi họ là những "magos" từ phương Đông. Họ là những nhà thông thái, những nhà thiên văn, những người dành cả đời để nghiên cứu các quy luật của vũ trụ. Họ là hiện thân của trí tuệ nhân loại, của khát vọng vươn tới chân lý. Nhưng trí tuệ của họ không phải là một trí tuệ đóng kín, kiêu ngạo. Trái lại, nó là một trí tuệ mở, một sự khôn ngoan biết rằng còn có những điều vượt lên trên tầm hiểu biết của con người. Khi họ thấy một ngôi sao lạ, họ đã không bỏ qua nó như một hiện tượng kỳ thú đơn thuần. Họ đã nhận ra trong đó một dấu chỉ, một thông điệp. Cõi lòng của họ còn đủ trong sáng và nhạy bén để nghe được tiếng thì thầm của Đấng Siêu Việt qua ngôn ngữ của thiên nhiên. Sự cởi mở này là điều kiện tiên quyết để có thể đón nhận mặc khải của Thiên Chúa.
Thiên Chúa luôn nói với con người qua nhiều cách khác nhau: qua vẻ đẹp của vũ trụ, qua những biến cố của lịch sử, qua tiếng nói của lương tâm, và cách đặc biệt qua Lời của Ngài trong Kinh Thánh. Nhưng nếu tâm hồn chúng ta đã bị đóng kín bởi những định kiến, bởi sự tự mãn, bởi những lo toan vật chất, chúng ta sẽ không thể nào nghe được tiếng Chúa. Các nhà chiêm tinh đã dạy chúng ta bài học về một tâm hồn biết lắng nghe, biết ngước nhìn lên bầu trời thay vì chỉ cúi đầu nhìn xuống đất. Hơn nữa, cõi lòng của họ còn được lấp đầy bởi một sự khao khát cháy bỏng. Họ không chỉ nhận ra dấu chỉ, mà còn hành động. Họ đã lên đường. Động lực của họ không phải là sự tò mò khoa học, cũng không phải là để tìm kiếm danh vọng hay của cải. Động lực của họ được tóm gọn trong một câu nói: "Chúng tôi đến để bái lạy Người". Đó là một sự khao khát thuần khiết, một khát vọng tâm linh sâu sắc muốn được gặp gỡ và thờ phượng Đấng là nguồn cội của mọi sự. Chính sự khao khát này đã tiếp cho họ sức mạnh để vượt qua mọi khó khăn, gian khổ của một hành trình dài. Họ là hình ảnh của người môn đệ đích thực, người luôn đặt việc tìm kiếm Chúa lên trên hết mọi sự.
Đối lập hoàn toàn với ánh sáng trong tâm hồn các nhà chiêm tinh là bóng tối dày đặc trong cõi lòng của vua Hêrôđê. "Nghe tin ấy, vua Hêrôđê bối rối". Tại sao một vị vua hùng mạnh, người được mệnh danh là "Hêrôđê Cả" vì những công trình xây dựng vĩ đại, lại phải bối rối trước tin tức về một Hài Nhi mới sinh? Sự bối rối của Hêrôđê bắt nguồn từ một cõi lòng đã bị bóng tối của quyền lực chiếm ngự. Ông ta coi ngai vàng là giá trị tuyệt đối của đời mình. Bất cứ điều gì có thể lung lay quyền lực ấy đều trở thành kẻ thù. Tin tức về một "Vua dân Do Thái" được sinh ra không phải là tin vui về ơn cứu độ, mà là một thách thức đối với vương quyền của ông. Thay vì mở lòng ra để đón nhận, ông lại đóng chặt lòng mình lại trong sự sợ hãi, ghen tương và ích kỷ. Nơi nào có sự ích kỷ và sợ hãi, nơi đó không có chỗ cho Thiên Chúa. Ánh sáng của ngôi sao Bêlem không thể xuyên qua được bức tường thành kiên cố của quyền lực mà Hêrôđê đã tự xây dựng quanh mình. Bóng tối của sự ích kỷ không chỉ dừng lại ở sự bối rối, nó còn dẫn đến sự giả dối và độc ác.
Hêrôđê đã triệu tập các nhà chiêm tinh đến, giả vờ là cũng muốn đi thờ lạy Hài Nhi. Ông ta đã sử dụng chính ngôn ngữ của tôn giáo, ngôn ngữ của sự thờ phượng, để che đậy cho một âm mưu giết người. Đây là đỉnh điểm của sự tội lỗi: biến điều thánh thiêng thành công cụ cho sự ác. Hêrôđê đã dùng cả Kinh Thánh, qua lời giải đáp của các kinh sư, để xác định mục tiêu cho kế hoạch đen tối của mình. Ông ta là hình ảnh của Satan, kẻ luôn tìm cách xuyên tạc Lời Chúa, dùng Lời Chúa để cám dỗ và hủy diệt. Cõi lòng của Hêrôđê là một lời cảnh báo đáng sợ về sức tàn phá của quyền lực khi nó không được đặt dưới sự hướng dẫn của Thiên Chúa. Quyền lực, tiền bạc, danh vọng, khi trở thành thần tượng, sẽ biến con người thành kẻ độc ác, sẵn sàng chà đạp lên tất cả, kể cả mạng sống của người vô tội, để bảo vệ cho cái ngai vàng ích kỷ của mình. Mỗi chúng ta cũng có một "Hêrôđê" nhỏ trong lòng. Đó là cái tôi kiêu ngạo, là lòng tham lam, là sự ghen tị khi thấy người khác hơn mình, là nỗi sợ hãi phải mất đi một điều gì đó mà ta coi là quý giá. Lễ Hiển Linh mời gọi chúng ta can đảm nhận diện và chiến đấu với "Hêrôđê" trong tâm hồn mình, để ánh sáng của Chúa có thể chiếu vào và xua tan đi những bóng tối đó.
Giữa hai thái cực là các nhà chiêm tinh và Hêrôđê, còn có một nhóm thứ ba: "cả thành Giêrusalem". Phản ứng của họ được mô tả bằng hai từ: "xôn xao theo". Đây là một thái độ có lẽ còn nguy hiểm và phổ biến hơn cả sự chống đối của Hêrôđê. Đó là thái độ của sự dửng dưng, của đám đông vô cảm. Dân thành Giêrusalem là dân riêng của Chúa. Họ sống ngay tại trung tâm của lời hứa. Đền thờ, nơi Thiên Chúa ngự, ở ngay giữa họ. Kinh Thánh, Lời Chúa, được rao giảng hàng ngày trong các hội đường. Các thượng tế và kinh sư, những người thông thạo Lời Chúa, cũng sống giữa họ. Hơn ai hết, họ phải là những người trông đợi Đấng Cứu Thế. Tin tức các nhà chiêm tinh mang đến đáng lẽ phải làm cho cả thành bùng lên một niềm vui khôn xiết. Nhưng không, họ chỉ "xôn xao". Đó là một sự xôn xao hời hợt, một sự bàn tán theo kiểu đám đông, rồi sau đó mọi chuyện lại đâu vào đấy. Họ nghe tin, họ biết nơi Hài Nhi sinh ra, nhưng không một ai trong số họ cất bước lên đường đi Bêlem, một nơi chỉ cách Giêrusalem vài cây số. Họ có kiến thức nhưng thiếu hành động. Họ có lời hứa nhưng thiếu sự khao khát. Cõi lòng của họ đã trở nên nguội lạnh, chai lì. Họ quá bận tâm đến những lo toan của cuộc sống thường ngày, quá sợ hãi những xáo trộn mà sự xuất hiện của Đấng Cứu Thế có thể gây ra, đến nỗi họ đã bỏ lỡ cơ hội vĩ đại nhất trong lịch sử của dân tộc mình. Sự dửng dưng này là một thứ bóng tối tinh vi.
Nó không công khai chống đối Chúa, nhưng nó âm thầm loại trừ Ngài ra khỏi cuộc sống. Nó coi tôn giáo như một thói quen, một di sản văn hóa, chứ không phải là một mối tương quan sống động với một Thiên Chúa hằng sống. Đây là cám dỗ lớn nhất của người Kitô hữu chúng ta hôm nay. Chúng ta có thể đi lễ mỗi Chúa Nhật, đọc kinh mỗi tối, nhưng cõi lòng vẫn hoàn toàn dửng dưng trước những đòi hỏi của Tin Mừng. Chúng ta nghe Lời Chúa nhưng không để cho Lời đó chất vấn và biến đổi đời sống. Chúng ta thấy những bất công, những đau khổ của anh em xung quanh nhưng lại dửng dưng quay mặt đi. Sự dửng dưng của dân thành Giêrusalem là một lời nhắc nhở rằng, việc ở gần Chúa về mặt không gian không bảo đảm rằng chúng ta cũng gần Chúa trong tâm hồn. Nguy hiểm thay cho những Kitô hữu đã đánh mất đi sự "ngạc nhiên" ban đầu, đánh mất đi niềm vui và sự sốt sắng của thuở ban đầu, và để cho đức tin của mình trở thành một thói quen nhàm chán, vô hồn.
Trong bối cảnh đó, hành động của các nhà chiêm tinh càng trở nên nổi bật và đáng khâm phục. Họ không để cho sự bối rối của Hêrôđê hay sự dửng dưng của dân thành Giêrusalem làm cho họ nản lòng. Họ đã nhận được câu trả lời từ Lời Chúa, và họ tin tưởng lên đường. "Bấy giờ, ngôi sao họ đã thấy ở phương Đông, lại dẫn đường cho họ". Ngôi sao, biểu tượng của sự hướng dẫn của Thiên Chúa, đã biến mất khi họ bước vào môi trường quyền lực và toan tính của Giêrusalem, và nay lại xuất hiện khi họ quay trở lại với hành trình đức tin tinh tuyền của mình.
Thiên Chúa không bao giờ thất hứa. Ngài luôn đồng hành với những ai thành tâm tìm kiếm Ngài. Ánh sáng của Ngài có thể có lúc bị che khuất bởi những đám mây của thử thách, của sự nghi ngờ, nhưng nó không bao giờ tắt hẳn. Chỉ cần chúng ta kiên trì bước tới, ánh sáng ấy sẽ lại chiếu soi. Và khi họ gặp được Hài Nhi, phản ứng của họ là một sự thờ lạy trọn vẹn. "Họ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Maria, liền sấp mình bái lạy Người." Hành động "sấp mình" này là sự công nhận tuyệt đối về thần tính của Hài Nhi. Họ, những nhà thông thái, những người có địa vị, đã không ngần ngại phủ phục trước một trẻ thơ nghèo khó. Họ đã nhìn xuyên qua cái vẻ bề ngoài tầm thường để nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa. Đức tin của họ là một đức tin có cặp mắt tinh tường, có khả năng nhìn thấy điều vô hình. Sự thờ lạy của họ là một lời tuyên xưng hùng hồn: Đây chính là Vua, là Thiên Chúa mà chúng tôi tìm kiếm.
Sự thờ lạy của họ không chỉ dừng lại ở cử chỉ bên ngoài, mà còn được thể hiện qua những lễ vật cụ thể: vàng, nhũ hương và mộc dược. Mỗi lễ vật là một bài giáo lý sâu sắc về căn tính của Đức Kitô. Vàng, lễ vật dành cho vua, tuyên xưng Giêsu là Vua của vũ trụ. Nhũ hương, lễ vật dành cho thần linh, tuyên xưng Giêsu là Thiên Chúa. Mộc dược, dùng để ướp xác, báo trước sứ mạng cứu chuộc qua đau khổ và cái chết của Ngài với tư cách là Con Người. Qua những lễ vật này, các nhà chiêm tinh, những người ngoại bang, đã tóm kết một cách tuyệt vời toàn bộ mầu nhiệm Nhập Thể.
Họ đã hiểu về Đức Kitô còn sâu sắc hơn cả các kinh sư và thượng tế của dân Do Thái. Điều này cho thấy rằng, sự hiểu biết về Chúa không đến từ kiến thức sách vở, mà đến từ một con tim khiêm tốn và khao khát. Thiên Chúa mặc khải mầu nhiệm của Ngài cho những người bé mọn, chứ không phải cho những kẻ tự cho mình là khôn ngoan, thông thái. Các lễ vật này cũng là một lời mời gọi cho chúng ta. Chúng ta dâng gì cho Chúa Hài Nhi hôm nay? Chúng ta có dâng cho Ngài "vàng" của những việc làm bác ái, "nhũ hương" của đời sống cầu nguyện và "mộc dược" của những hy sinh, đau khổ hàng ngày không? Hay chúng ta đến với Chúa với hai bàn tay trắng, với một cõi lòng trống rỗng?
Cuối cùng, câu chuyện kết thúc với một sự biến đổi: "họ được báo mộng là đừng trở lại gặp vua Hêrôđê nữa, nên đã đi lối khác mà về xứ mình." Gặp gỡ Đức Kitô không bao giờ là một sự kiện vô ích. Nó luôn luôn để lại một dấu ấn, tạo ra một sự thay đổi. "Lối cũ" là lối của Hêrôđê, lối của thế gian, của bóng tối. "Lối khác" là lối của Tin Mừng, của ánh sáng. Các nhà chiêm tinh đã chọn đi "lối khác". Họ đã không còn là những con người cũ. Cuộc gặp gỡ với Hài Nhi Bêlem đã khai sáng cho họ, cho họ một hướng đi mới, một ý nghĩa mới cho cuộc đời. Họ trở về xứ sở của mình, nhưng họ không còn nhìn thế giới bằng cặp mắt cũ nữa. Họ đã trở thành những sứ giả của ánh sáng, những người mang trong mình tin vui về Đấng Cứu Thế.
Lễ Hiển Linh, vì thế, là lễ của sự lựa chọn và sự biến đổi. Mỗi ngày, chúng ta đều đứng trước sự lựa chọn giữa ánh sáng và bóng tối, giữa con đường của các nhà chiêm tinh và con đường của Hêrôđê. Chúng ta lựa chọn sự khao khát tìm kiếm Chúa hay sự đóng kín trong cái tôi ích kỷ của mình? Chúng ta lựa chọn sự thờ lạy khiêm tốn hay sự dửng dưng, vô cảm? Mỗi Thánh lễ là một cơ hội để chúng ta gặp gỡ Chúa và được biến đổi, để chúng ta có thể can đảm "đi lối khác mà về". Xin Chúa, qua lời chuyển cầu của Mẹ Maria và các Thánh Tông Đồ, ban cho chúng ta một cõi lòng trong sáng như các nhà chiêm tinh, để chúng ta có thể nhận ra ánh sao của Chúa trong cuộc đời, can đảm lên đường tìm kiếm Ngài, và sau khi đã gặp gỡ Ngài, biết sống một đời sống mới, trở nên ánh sáng chiếu soi cho thế giới đang chìm trong bóng tối. Xin cho chúng ta đừng bao giờ trở thành những Hêrôđê độc ác hay những người dân Giêrusalem dửng dưng, nhưng luôn là những người lữ hành trên con đường đức tin, với con tim luôn hướng về Bêlem, nơi có Đấng là Ánh Sáng thật, là bình an và hy vọng của toàn thể nhân loại. Amen.
Lm. Anmai, CSsR
======================
MẦU NHIỆM HIỂN LINH - LỜI MỜI GỌI TRỞ NÊN CHỨNG NHÂN
Lễ Hiển Linh, một trong những lễ trọng cổ xưa nhất của Hội Thánh, mang một ý nghĩa vô cùng phong phú và đa diện. "Hiển Linh" có nghĩa là tỏ mình ra, là một sự biểu lộ, một sự mặc khải. Thiên Chúa, Đấng vô hình và siêu việt, đã quyết định tỏ mình ra cho nhân loại trong hình hài một trẻ thơ bé nhỏ, và Ngài đã chọn những người đầu tiên được diễm phúc chiêm ngắm vinh quang của Ngài không phải là những người quyền thế hay đạo đức của dân riêng, mà là những nhà chiêm tinh từ phương Đông, những người đại diện cho toàn thể thế giới dân ngoại. Biến cố này không chỉ là một sự kiện lịch sử, mà còn là một mầu nhiệm nền tảng của đức tin Kitô giáo.
Nó công bố một sự thật vĩ đại: ơn cứu độ của Thiên Chúa không bị giới hạn trong một dân tộc, một nền văn hóa nào, mà được ban cho tất cả mọi người, không trừ một ai. Đồng thời, câu chuyện về các nhà chiêm tinh không chỉ dừng lại ở việc họ đến, thờ lạy và ra về. Toàn bộ hành trình của họ, từ lúc nhìn thấy ngôi sao cho đến lúc "đi lối khác mà về xứ mình", là một mẫu gương sống động về hành trình của người môn đệ, một lời mời gọi khẩn thiết cho mỗi Kitô hữu hãy trở nên những "hiển linh", những sự tỏ mình của Chúa cho thế giới hôm nay. Chúng ta không chỉ chiêm ngắm mầu nhiệm Hiển Linh, mà còn được mời gọi sống mầu nhiệm ấy và trở thành những chứng nhân của ánh sáng.
Hành trình của các nhà chiêm tinh là một hành trình chứng tá ngay từ những bước đầu tiên. Họ là những con người của khoa học, nhưng họ đã không để cho lý trí của mình trở thành một nhà tù. Họ đã ngước nhìn lên cao, và chính trong sự chiêm ngắm vũ trụ, họ đã nhận ra một tiếng gọi vượt lên trên những quy luật tự nhiên. Ngôi sao không chỉ là một thiên thể, mà là một "dấu lạ", một ngón tay của Thiên Chúa chỉ về một điều gì đó trọng đại sắp xảy ra. Việc nhận ra dấu chỉ của Chúa giữa cuộc sống đời thường chính là bước đầu tiên của người chứng nhân. Thiên Chúa không ngừng nói với chúng ta qua vẻ đẹp của một bông hoa, qua tiếng khóc của một trẻ thơ, qua một biến cố vui buồn, qua một lời nói của người bạn. Người chứng nhân là người có con tim nhạy bén, có đôi mắt đức tin để nhận ra sự hiện diện và hoạt động của Chúa trong mọi sự. Sau khi nhận ra dấu chỉ, các nhà chiêm tinh đã "lên đường". Đây là hành động chứng tá thứ hai, và cũng là hành động quyết định. Đức tin mà không có hành động là đức tin chết. Họ đã không ngồi yên để bàn luận, phân tích về ngôi sao, nhưng đã can đảm từ bỏ tất cả để dấn thân vào một cuộc tìm kiếm. Sự từ bỏ của họ thật lớn lao: từ bỏ quê hương, sự an toàn, những mối quan hệ quen thuộc. Hành trình của họ là một lời chứng hùng hồn về việc đặt Thiên Chúa lên trên hết mọi sự. Trở nên chứng nhân có nghĩa là dám ra khỏi chính mình, dám trả giá, dám sống khác với những giá trị của thế gian để đi theo tiếng gọi của Chúa.
Khi đến Giêrusalem, hành trình của họ gặp phải thử thách. Ngôi sao biến mất. Sự dẫn dắt trực tiếp của Thiên Chúa dường như tạm thời rút lui. Đây là một kinh nghiệm quen thuộc trong đời sống đức tin. Có những lúc chúng ta cảm thấy khô khan, nguội lạnh, Thiên Chúa dường như im lặng. Trong những lúc đó, các nhà chiêm tinh đã không bỏ cuộc. Họ đã cho thấy một khía cạnh khác của đời sống chứng nhân: sự khiêm tốn tìm kiếm sự soi sáng nơi cộng đoàn đức tin. Họ, những người ngoại bang, đã đến hỏi các thượng tế và kinh sư của dân Do Thái.
Họ tin rằng Thiên Chúa đã mặc khải cho dân riêng của Ngài qua Kinh Thánh. Hành động này cho thấy rằng, đời sống chứng nhân không phải là một hành trình đơn độc. Chúng ta cần đến nhau, cần đến sự khôn ngoan của Hội Thánh, cần đến Lời Chúa được lưu truyền qua bao thế hệ để soi sáng cho con đường của mình. Người chứng nhân không phải là người tự mãn với kinh nghiệm cá nhân của mình, nhưng là người biết khiêm tốn lắng nghe và học hỏi từ kho tàng đức tin chung của cả Hội Thánh. Sự đối lập giữa họ và các kinh sư thật đáng suy ngẫm. Các kinh sư có kiến thức, nhưng thiếu ngọn lửa. Các nhà chiêm tinh có ngọn lửa, và họ đã khiêm tốn tìm đến kiến thức để ngọn lửa ấy được cháy đúng hướng. Người chứng nhân đích thực là người kết hợp được cả hai: lòng yêu mến sốt sắng và sự hiểu biết đúng đắn về giáo lý của Hội Thánh.
Cuộc gặp gỡ với Hài Nhi Giêsu là đỉnh cao của hành trình và là trung tâm của đời sống chứng nhân. "Họ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Maria, liền sấp mình bái lạy Người." Đây là giây phút mà mọi tìm kiếm, mọi hy sinh của họ được đền đáp. Chứng tá của họ đạt đến tột đỉnh trong hành vi thờ lạy. Trở nên chứng nhân trước hết và trên hết có nghĩa là nhận ra và tôn thờ Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô. Mọi hoạt động tông đồ, mọi công việc bác ái, nếu không bắt nguồn từ một đời sống cầu nguyện và thờ lượng sâu sắc, sẽ chỉ là những hoạt động xã hội trống rỗng, thiếu linh hồn. Các nhà chiêm tinh đã dạy chúng ta rằng, trước khi nói về Chúa cho người khác, chúng ta phải nói chuyện với Chúa. Trước khi hành động vì Chúa, chúng ta phải ở lại trước mặt Chúa. Sự thờ lạy là nguồn mạch tuôn trào sức mạnh và ý nghĩa cho mọi hoạt động chứng tá. Khi chúng ta sấp mình thờ lạy Chúa, chúng ta đặt lại đúng trật tự của mọi sự: Thiên Chúa là trên hết, và chúng ta là những thụ tạo nhỏ bé, hạnh phúc được phục vụ Ngài. Chính trong sự thờ lạy mà chúng ta nhận ra căn tính thật của mình và của Đấng mà chúng ta được sai đi để làm chứng.
Sự thờ lạy của các nhà chiêm tinh không phải là một cảm xúc thoáng qua, mà được cụ thể hóa bằng việc dâng tiến lễ vật: vàng, nhũ hương và mộc dược. Những lễ vật này là một bài học tuyệt vời về nội dung của lời chứng. Làm chứng cho Chúa không chỉ là nói bằng lời, mà còn là hành động, là dâng hiến cả cuộc đời. "Vàng" là biểu tượng của đức ái, của sự quảng đại. Người chứng nhân là người có con tim của một vị vua, một vị vua biết phục vụ, biết cho đi những gì quý giá nhất của mình cho anh em, đặc biệt là những người nghèo.
Lời chứng của chúng ta sẽ không có sức thuyết phục nếu nó không đi đôi với những hành động bác ái cụ thể. "Nhũ hương" là biểu tượng của đời sống cầu nguyện, của sự thờ phượng. Người chứng nhân là người có một đời sống nội tâm sâu sắc, một mối tương quan cá vị với Thiên Chúa. Lời chứng của chúng ta phải được thấm đẫm hương thơm của cầu nguyện, để người khác có thể cảm nhận được sự hiện diện của Chúa qua con người chúng ta. "Mộc dược" là biểu tượng của sự hy sinh, của việc vác thập giá mình hằng ngày. Người chứng nhân là người không sợ đau khổ, không trốn tránh thử thách, nhưng biết kết hợp những khó khăn của đời mình với cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Lời chứng về một Thiên Chúa đã chịu đóng đinh sẽ trở nên đáng tin cậy khi chính cuộc đời của người chứng nhân cũng mang dấu ấn của sự hy sinh và từ bỏ. Như vậy, trở nên chứng nhân là sống trọn vẹn ba chiều kích: yêu thương phục vụ như một vị vua, cầu nguyện thờ lượng như một tư tế, và hy sinh từ bỏ như một lễ vật.
Cuối cùng, hành trình của người chứng nhân luôn dẫn đến một sự biến đổi và một sứ mạng mới. "Họ được báo mộng là đừng trở lại gặp vua Hêrôđê nữa, nên đã đi lối khác mà về xứ mình." Gặp gỡ Đức Kitô đã thay đổi hoàn toàn cuộc đời họ. Họ không thể quay trở lại với con đường cũ, con đường của thế gian, của bóng tối. Họ phải đi một "lối khác", lối đi của Tin Mừng. Đây là bản chất của sự hoán cải. Người chứng nhân là người đã được biến đổi bởi Đức Kitô, một người đã chết đi cho con người cũ để sống một đời sống mới. Lối sống mới này tự nó đã là một lời chứng. Khi người ta thấy một người Kitô hữu sống yêu thương, tha thứ, khiêm tốn, vui tươi giữa những khó khăn, họ sẽ phải đặt câu hỏi: "Điều gì đã làm cho con người này trở nên như vậy?"
Và đó là lúc lời chứng bằng lời nói có cơ hội được cất lên. Các nhà chiêm tinh trở về xứ sở của mình. Sứ mạng của họ không phải là ở lại Bêlem, nhưng là trở về với môi trường sống của mình, với công việc của mình, với gia đình của mình, và trở nên những "ngôi sao" cho những người xung quanh. Họ đã thấy Ánh Sáng, và giờ đây họ có nhiệm vụ phản chiếu lại Ánh Sáng đó cho người khác. Đây cũng chính là sứ mạng của mỗi chúng ta. Sau mỗi Thánh Lễ, sau mỗi giờ cầu nguyện, chúng ta được sai đi, trở về với "xứ sở" của mình là gia đình, trường học, công sở, khu phố, để làm chứng cho Chúa. Chúng ta không cần phải làm những điều gì phi thường, nhưng chỉ cần sống "lối khác", lối của Tin Mừng, trong chính những công việc bình thường hàng ngày.
Mầu nhiệm Hiển Linh là một lời khẳng định mạnh mẽ về tính phổ quát của ơn cứu độ và là một lời mời gọi khẩn thiết cho mỗi Kitô hữu hãy ý thức về ơn gọi làm chứng của mình. Thiên Chúa đã tỏ mình ra cho dân ngoại qua các nhà chiêm tinh. Ngày nay, Ngài muốn tiếp tục tỏ mình ra cho thế giới qua chính cuộc đời của chúng ta. Mỗi chúng ta được mời gọi trở nên một nhà chiêm tinh thời hiện đại: biết ngước nhìn lên cao để nhận ra dấu chỉ của Chúa, biết can đảm lên đường từ bỏ con người cũ, biết khiêm tốn tìm về với Lời Chúa và Hội Thánh, biết sấp mình thờ lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, biết dâng tiến lễ vật cuộc đời là Bác ái - Cầu nguyện - Hy sinh, và sau cùng, biết can đảm đi "lối khác" trong cuộc sống, trở nên ánh sáng của Chúa cho trần gian. Thế giới hôm nay đang rất cần những ngôi sao dẫn đường, những chứng nhân đáng tin cậy. Xin Chúa, qua mầu nhiệm Hiển Linh, biến đổi mỗi chúng ta thành những chứng nhân nhiệt thành và can đảm của Ngài, để nhiều tâm hồn khác cũng có thể tìm thấy con đường đến với Bêlem, nơi họ sẽ gặp được Đấng là niềm vui và là ơn cứu độ của muôn dân. Amen.
Lm. Anmai, CSsR
======================
LÊN ĐƯỜNG TÌM THIÊN CHÚA
Trình thuật Tin Mừng hôm nay kể lại hành trình của các nhà chiêm tinh, thành tâm đi tìm Hài Nhi Giêsu, vị vua Do Thái mới sinh. Họ từ phương đông lặn lội đến Giêrusalem tìm hỏi, chỉ nhờ một ngôi sao dẫn đường. Với sự kiện ba nhà đạo sĩ đi tìm và gặp Chúa Hài Nhi, chứng tỏ Thiên Chúa đã tỏ mình ra không chỉ cho các mục đồng trong ngày giáng thế, mà Chúa còn tỏ mình cho các dân ngoại, cho tất cả mọi người, không loại trừ ai, không phân biệt màu da sắc tộc.
“Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người.” (Mt 2, 2b). Sự khao khát mãnh liệt được thúc đẩy từ bên trong, khiến các nhà đạo sĩ khao khát tìm kiếm, không gì ngăn cản được, họ quyết tâm mò mẫm lên đường theo dấu chỉ từ ngôi sao lạ. Họ trung thành đi theo ánh sao, dù khi trèo đèo lội suối, lúc gặp đường gai góc quanh co, chắc sẽ có lúc như ngõ cụt, bế tắc, hoặc bóng tối đêm đen, nhưng họ không chán nản, vẫn bền chí trung kiên, cho đến đích cuối cùng nơi Hài Nhi ở: “họ mừng rỡ vô cùng. Họ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Maria, liền sấp mình thờ lạy Người”. (Mt 2,10). Đây là bài học lớn cho chúng con trong hành trình tìm và bước theo Chúa. Lắm khi cuộc đời gặp sóng gió nổi trôi, thất bại, niềm tin bị lung lay... Nếu chúng con biết tìm đến với Chúa, ánh sáng của Chúa sẽ chiếu soi giúp chúng con biết đi theo đúng đường ngay nẻo chính.
Nhưng ngày nay đâu là ánh sao để chúng con dõi bước tìm theo? Trong Thánh lễ, nơi Lời Chúa và Thánh Thể, trong các Bí tích, giờ kinh Phụng vụ, giờ cầu nguyện riêng và cả những người có kinh nghiệm chỉ lối hướng dẫn, là như ánh sao để chúng con tìm về bước theo. Khi xưa ba nhà đạo sĩ đã phải nhờ đến các vị lãnh đạo tôn giáo, để tìm hiểu và nhận ra đúng địa chỉ mà sách ngôn sứ đã báo trước trong Kinh Thánh.
Lạy Chúa! ngày nay chúng con cũng được mời gọi lên đường tìm kiếm và gặp gỡ Chúa. Ba nhà đạo sĩ đã thờ lạy và dâng Chúa Hài Nhi những của lễ cao quý. Khi chúng con được gặp gỡ Chúa, xin cho chúng con biết hiến dâng tất cả những gì tốt đẹp, cao quý mà chúng con có được. Bằng cả đời sống theo ơn Chúa, chúng con sẽ trổ sinh những hoa trái tốt lành, khởi đi từ những nghĩa cử đẹp, lòng nhân hậu, quảng đại sẻ chia, để vinh quang Chúa được tỏ hiện rõ trong cuộc đời chúng con. Amen.
Én Nhỏ
==================
Chúa Hiển Linh - sứ mạng của người tín hữu
Hôm nay, Hội Thánh long trọng cử hành Lễ Chúa Hiển Linh, hay còn gọi là Lễ Chúa Tỏ Mình, một trong những lễ cổ kính và giàu chiều sâu đức tin nhất của Ki-tô giáo. Ngay từ những thế kỷ đầu, đặc biệt nơi các Giáo Hội Đông phương, lễ này đã được cử hành để tuyên xưng rằng: Thiên Chúa đã tỏ mình ra cho nhân loại nơi Đức Giê-su Ki-tô, và ơn cứu độ của Người không dành riêng cho một dân tộc, nhưng cho toàn thể muôn dân.
Từ “Hiển Linh” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp Epiphaneia, hay Epiphaino, có nghĩa là Thiên Chúa tự mặc khải trong nhân tính của Đức Ki-tô, khiến người khác có thể trông thấy mình được được. Nếu lễ Giáng Sinh nhấn mạnh sự ẩn mình của Thiên Chúa trong thân phận nghèo hèn của Trẻ Thơ Bê-lem, thì lễ Hiển Linh lại làm nổi bật việc Thiên Chúa chủ động tỏ mình, xuất hiện qua chính nhân tính ấy, để con người nhận ra và thờ lạy.
Dấu chỉ đặc biệt của sự tỏ mình này chính là ánh sao lạ. Thiên Chúa dùng ánh sao để dẫn đường cho Ba Nhà Đạo Sĩ từ phương Đông, những người không thuộc dân Do Thái, nhưng lại có tấm lòng khao khát chân lý. Nhờ ánh sao, họ lên đường tìm kiếm và cuối cùng gặp và tin nhận Đức Giê-su là Đấng Cứu Thế.
Ánh sáng bừng lên giữa bóng tối
Bài đọc I, trích sách ngôn sứ I-sai-a, vang lên như một lời công bố hùng hồn và đầy hy vọng: “Hãy đứng lên, hãy toả sáng ra, hỡi Giê-ru-sa-lem! Vì sự sáng của ngươi đã tới” (Is 60,1).
Trong bối cảnh dân Chúa đang sống giữa cảnh lưu đày, u tối và tuyệt vọng, I-sai-a loan báo rằng vinh quang của Thiên Chúa sẽ bừng lên, và các dân tộc sẽ tìm đến ánh sáng ấy. Lời tiên tri này được ứng nghiệm trọn vẹn nơi Đức Giê-su Ki-tô. Người chính là Ánh Sáng thật, không chỉ chiếu soi Ít-ra-en, mà còn chiếu soi muôn dân.
Ánh sáng của Chúa không xua tan bóng tối bằng bạo lực, nhưng bằng tình yêu, sự thật và lòng xót thương. Giữa một thế giới hôm nay còn đầy chiến tranh, hận thù, gian dối và chia rẽ, lễ Hiển Linh nhắc chúng ta rằng: “Ánh sáng đã đến trong thế gian”, và ánh sáng ấy vẫn đang mời gọi con người bước ra khỏi bóng tối của ích kỷ, sợ hãi và tội lỗi.
Đức Ki-tô là Ơn cứu độ cho toàn thế giới
Bài đọc II, trích thư thánh Phao-lô gửi tín hữu Ê-phê-xô, làm sáng tỏ chiều kích phổ quát của mầu nhiệm này: “Các dân ngoại được nên đồng thừa tự, đồng một thân thể, và đồng thông phần với lời hứa của Người” (Êp 3,6).
Đây là một mặc khải lớn lao: ơn cứu độ không còn bị giới hạn bởi huyết thống, luật lệ hay truyền thống, nhưng được ban cho tất cả những ai tin. Qua Đức Giê-su, Thiên Chúa phá đổ mọi bức tường ngăn cách để quy tụ nhân loại thành một gia đình duy nhất.
Lời này mời gọi mỗi Ki-tô hữu chúng ta hôm nay mở rộng con tim, biết tôn trọng, đối thoại và cộng tác với những người khác chúng ta về niềm tin, văn hóa và quan điểm. Chúng ta không được khép kín hay loại trừ, nhưng phải trở nên ánh sao sáng hay dấu chỉ sống động của sự hiệp nhất và tình huynh đệ phổ quát.
Hành trình của ánh sáng và đức tin
Ba Nhà Đạo Sĩ là hình ảnh tiêu biểu của những con người biết tìm kiếm Thiên Chúa. Tin Mừng theo thánh Mát-thêu thuật lại rằng: “Họ đã quỳ gối xuống sụp lạy Người” (Mt 2,11). Họ đọc ra dấu chỉ của Người nơi ngôi sao, dám lên đường, vượt đèo trèo sông, bất chấp nghịch cảnh và cả âm mưu của vua Hê-rô-đê. Họ không dừng lại ở kiến thức, nhưng để cho ánh sáng dẫn họ đến cuộc gặp gỡ đích thực với Thiên Chúa làm người.
Họ dâng lên Hài Nhi vàng, nhũ hương và mộc dược: vàng để tuyên xưng Người là Vua, nhũ hương để thờ lạy Người là Thiên Chúa, và mộc dược báo trước cuộc khổ nạn cứu độ. Trước một Hài Nhi nghèo hèn, họ đã nhận ra vinh quang đích thực.
Trái lại, vua Hê-rô-đê và các kinh sư, dù biết Kinh Thánh, lại không lên đường. Kiến thức không đi kèm lòng khiêm tốn và khao khát chân lý có thể dẫn con người đến sự mù lòa thiêng liêng.
Sứ mạng người Ki-tô hữu, phản chiếu Ánh Sáng
Lễ Hiển Linh không chỉ nói về một biến cố trong quá khứ, mà còn nói về sứ mạng của Giáo Hội và của người Ki-tô hữu chúng ta là phản chiếu Ánh Sáng hôm nay. Như Hiến chế Lumen Gentium khẳng định: “Ánh sáng muôn dân là chính Chúa Ki-tô”; Giáo Hội không phải là ánh sáng tự mình, nhưng có sứ mạng phản chiếu ánh sáng của Đức Ki-tô cho thế giới.
Mỗi Ki-tô hữu cũng vậy. Sau khi đã được ánh sáng Chúa chiếu soi, chúng ta được mời gọi thi hành sứ mạng của mình là trở thành những “ngôi sao nhỏ”, dẫn người khác đến với Chúa bằng đời sống yêu thương, trung thực, tha thứ và phục vụ. Chúng ta không cần làm những việc lớn lao, nhưng cần sống Tin Mừng cách nhất quán mỗi ngày.
Lễ Chúa Hiển Linh khẳng định rằng Thiên Chúa không ẩn mình, nhưng luôn tỏ lộ cho những ai thành tâm tìm kiếm. Ngài mời gọi chúng ta bước ra khỏi vùng an toàn, theo ánh sáng đức tin, để gặp được Đức Ki-tô là Ánh Sáng thật chiếu soi trần gian.
Ước gì, sau khi đã quỳ gối thờ lạy Chúa như Ba Nhà Đạo Sĩ năm xưa, chúng ta cũng trở về bằng con đường khác: con đường của một đời sống được biến đổi, để chính chúng ta trở nên ánh sáng của Chúa giữa lòng thế giới hôm nay. Amen.
Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ
===================
NIỀM TIN LÊN ĐƯỜNG
Tin Mừng hôm nay kể về các nhà chiêm tinh, được gọi là Magi, từ phương Đông đến tìm kiếm Đấng Cứu Thế. Họ là những người khôn ngoan, am hiểu triết học và khoa học tự nhiên. Họ tin là các vì sao có liên hệ đến vận mệnh thế giới, và sự xuất hiện của một vì sao lạ có thể là dấu chỉ cho một biến cố lớn lao. Nhưng điều làm nên ý nghĩa của các Magi không phải là kiến thức họ có, mà là một đức tin lên đường. 1. Bêlem – nơi nhỏ bé nhưng mang lời hứa của Thiên Chúa Đức Giêsu ra đời tại Bêlem, miền Giuđê, thời vua Hêrôđê trị vì. Bêlem là một thị trấn nhỏ, cách Giêrusalem khoảng mười cây số về phía nam, xưa kia gọi là Épratha. Nơi đây là quê hương của vua Đavít. Chính từ dòng dõi Đavít, Thiên Chúa hứa ban Đấng Cứu Độ cho dân Ngài, như lời ngôn sứ Mikha đã loan báo: “Phần ngươi, hỡi Bêlem Épratha… từ nơi ngươi, Ta sẽ cho xuất hiện một vị có sứ mạng thống lãnh Ítraen” (Mk 5,1). Điều nghịch lý là: nơi nhỏ bé và âm thầm ấy lại trở thành điểm khởi đầu của kế hoạch cứu độ dành cho muôn dân. 2. Ánh sao và những con người thao thức tìm kiếm Thánh Mátthêu viết trình thuật này theo lối văn khải huyền của người Do Thái, nên không thể hiểu mọi chi tiết theo nghĩa đen. Tuy nhiên, điều ông muốn nhấn mạnh rất rõ: Thiên Chúa có thể dùng chính những dấu chỉ quen thuộc của vũ trụ để ngỏ lời với con người. Qua một vì sao, Thiên Chúa mời gọi các dân ngoại lên đường tìm kiếm Ngài.Trái ngược với các nhà chiêm tinh là phản ứng của vua Hêrôđê và giới lãnh đạo Do Thái giáo. Hêrôđê bối rối và sợ hãi vì quyền lực của mình bị đe dọa. Các thượng tế và kinh sư biết rõ lời các ngôn sứ nói Đấng Mêsia sinh ra ở Bêlem, nhưng họ vẫn không lên đường. Họ có Kinh Thánh, có truyền thống, có hệ thống tôn giáo hoàn chỉnh, nhưng thiếu một điều căn bản: là niềm tin dám bước đi. Đức tin của họ bị khép kín trong lề luật, nghi lễ và những cơ chế an toàn. Biết rất nhiều về Thiên Chúa, nhưng lại không gặp được Ngài cũng có thể là căn bệnh của ta.
5. Gặp Đức Kitô và trở về bằng con đường khác
Cuối cùng, các nhà chiêm tinh gặp được Hài Nhi, không phải trong cung điện, cũng không trong hào quang rực rỡ, mà trong một khung cảnh nghèo nàn. Chỉ với cái nhìn của đức tin, họ mới nhận ra nơi Hài Nhi bé nhỏ ấy là Vua của muôn dân. Gặp được Đức Kitô, họ sấp mình bái lạy và dâng tiến lễ vật. Rồi họ trở về bằng con đường khác. Không chỉ để tránh âm mưu của Hêrôđê, mà còn nói lên một hướng sống mới. Ai thật sự gặp Chúa thì không thể tiếp tục lối sống cũ.
6. Thế giới hôm nay trước những dấu chỉ
Câu chuyện ấy vẫn đang tiếp diễn trong thế giới hôm nay. Vẫn có những người coi Thiên Chúa như một thực tại xa vời, không can dự vào lịch sử con người. Vẫn có những chủ trương phủ nhận mọi chiều kích thần linh và tìm cách bóp nghẹt chân lý, cho dù họ vẫn thấy những dấu chỉ dưới nhiều hình thức. Thế nhưng vẫn có biết bao người, dù không mang danh Kitô hữu, vẫn đang âm thầm tìm kiếm Thiên Chúa. Một ánh sáng nào đó soi chiếu trên đường đời họ, thúc đẩy họ sống cho sự thiện, cho phẩm giá con người, và cho những giá trị vượt lên trên lợi ích trước mắt. Họ là những Magi của thời đại hôm nay.
7. Lời mời gọi dành cho chúng ta
Còn chúng ta thì sao? Nếu không tỉnh thức, chúng ta cũng có thể tự mãn với những gì mình biết về Thiên Chúa, để rồi đánh mất thao thức kiếm tìm Ngài. Đức tin chúng ta rất dễ bị thu gọn trong các tín điều, câu kinh và nghi thức, mà thiếu sức đẩy lên đường.
Lễ Chúa Hiển Linh mời gọi ta học lại bài học của các nhà chiêm tinh, là một đức tin lên đường: dám ra khỏi mình, ra khỏi những an toàn và tiện nghi đang trói buộc, để nhận ra Thiên Chúa đang tỏ mình trong thiên nhiên, trong lịch sử, và trong chính những biến cố bình thường.
Cầu nguyện
Lạy Chúa là Thiên Chúa khắp vũ hoàn,
không chỉ tỏ mình cho Ít-ra-en,
mà còn cho tất cả mọi dân nước,
Chúa đã dùng ánh sao làm dấu chỉ,
nhờ đó các đạo sĩ đã lên đường,
và rồi đã gặp được Chúa tình thương.
Chúa vẫn tỏ mình ra cho những ai,
có tâm hồn đơn sơ và ngay chính,
sống công bình và bác ái tận tình,
không ham mê bám víu cuộc đời này.
Như các nhà chiêm tinh đi tìm Chúa,
xin cho con dám đi ra khỏi mình,
khỏi định kiến và lười biếng tinh thần,
khỏi tiện nghi và tự mãn bản thân,
để nhận ra Chúa nơi từng tha nhân,
qua dấu chỉ của thiên nhiên vạn vật.
Xin cho con sống niềm tin lên đường,
luôn can trường và chấp nhận đau thương,
để sau khi vượt qua nhiều gai chướng,
được gặp Chúa ở cuối cuộc hành hương,
là niềm vui hạnh phúc chốn thiên đường,
mà lòng con vẫn hằng luôn mong ước.
Xin cho con nên dấu chỉ của Chúa,
là ánh sao giữa đời trong đêm tối,
để âm thầm luôn dẫn lối đưa đường,
là ánh sao hiền lành và khiêm nhượng,
trong phục vụ với tất cả tình thương,
để qui hướng mọi người về với Chúa. Amen.
Lm. Thái Nguyên
==================
HÃY QUỲ - HÃY RẼ - HÃY ĐI
“Họ liền sấp mình thờ lạy Người!”.
Hiển Linh không phải lễ của ánh sao, mà là lễ của những chuyển động!
Kính thưa Anh Chị em,
Lễ Hiển Linh thường được nói đến với một ngôi sao lạ rực sáng giữa đêm đông. Nhưng Tin Mừng không dừng lại ở ánh sao mà còn nói đến một chuỗi chuyển động rất người, rất thật, cũng là bài học cho mỗi chúng ta: ‘hãy quỳ – hãy rẽ – và hãy đi!’.
“Các đạo sĩ liền sấp mình thờ lạy Người” - họ ‘quỳ’. Điều gây sửng sốt không phải là cử chỉ thờ lạy, mà là đối tượng thờ lạy. Không phải ngai vàng, quyền lực, nhưng là một Hài Nhi nghèo hèn, hoàn toàn lệ thuộc, lặng thinh trong máng lừa. “Sấp mình” ở đây không là dấu yếu đuối, nhưng là giây phút con người buông mình trước mầu nhiệm; là thú nhận, ‘Con đã đi xa, đã tìm nhiều, nhưng cuối cùng không nắm được Ngài’. Chính khi ấy, Thiên Chúa mới tỏ mình - không bằng quyền lực, nhưng bằng sự mong manh. Không quỳ, bạn chỉ ảo tưởng về mình; quỳ rồi, chúng ta mới biết thờ lạy. “Khiêm nhường là mảnh đất nơi thờ lạy đích thực nảy mầm; và thờ lạy là tình yêu đáp trả tình yêu!” - Judson Cornwall.
“Họ đã đi lối khác mà về” - họ ‘rẽ’. Gặp được Chúa, không ai có thể trở về lối cũ vốn có thể quen thuộc, an toàn; nhưng cũng có thể là lối của sợ hãi, nghi kỵ và vong thân. ‘Rẽ’ không có nghĩa là phản bội quá khứ, nhưng là để ‘không phản bội ánh sáng’ mình đã gặp. Một đức tin không làm rẽ hướng rất có thể chỉ là một ý tưởng đẹp, chưa phải là một cuộc gặp gỡ. Gặp được Chúa, người ta không thể sống như cũ - không vì Ngài đòi hỏi, nhưng vì trái tim đã được đặt sang một hướng khác. “Không gì làm tê liệt đời sống bằng thái độ cho rằng, mọi thứ không thể đổi thay!” - Warren Wiersbe.
Và rồi, “Họ về” - họ ‘đi’. Các đạo sĩ không dựng lều ở Bêlem, không giữ cuộc gặp gỡ cho riêng mình. Họ trở về với thế giới, nhưng không còn là những con người cũ. Ai đã quỳ thật sự, rẽ thật sự, thì phải đi. Họ không để lại một huấn dụ, chỉ lặng lẽ ra đi, mang theo một ký ức không ai lấy mất. Không phải mọi chứng tá đều cần lời: có những cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa sâu đến mức, chính cuộc đời đã nói thay; và có những người không nói về Chúa, nhưng cả đời họ trở thành một lối dẫn đến Ngài. “Khi chúng ta cố gắng trở nên tốt hơn chính mình, mọi điều chung quanh cũng trở nên tốt hơn!” - Paulo Coelho.
Anh Chị em,
Lễ Hiển Linh không hỏi, “Bạn đã thấy ánh sao chưa?”; nhưng hỏi, “Bạn đã chuyển động chưa?”. Vậy hãy quỳ trước một Thiên Chúa thường ẩn mình, rẽ khỏi những lối dẫn bạn xa Ngài, và đi, mang ánh sáng Ngài vào đời. Hiển Linh không để ngắm, mà để bước theo và ra đi. Khi bạn đứng yên, ánh sao chỉ là một vệt sáng từ xa; khi bạn chuyển động, nó trở thành con đường dẫn đến Giêsu, nơi quyền năng hoá thành tình yêu. “Cách duy nhất để thấu hiểu sự thay đổi là đắm mình vào đó, theo chuyển động của nó, và hoà vào điệu múa!” - Alan Watts.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, dạy con quỳ gối trước mầu nhiệm, nhẹ lòng rẽ khỏi những lối lầm lạc, và ra đi trong ánh sáng để nói về Đấng đã kéo con ra khỏi bóng tối!”, Amen.
Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)
==================