
Này đây người trinh nữ sẽ mang thai.
Bài trích sách ngôn sứ I-sai-a.
10 Khi ấy, Đức Chúa sai ngôn sứ I-sai-a nói với vua A-khát rằng:
11“Ngươi cứ xin Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi
ban cho ngươi một dấu
dưới đáy âm phủ hoặc trên chốn cao xanh.”
12Vua A-khát trả lời:
“Tôi sẽ không xin, tôi không dám thử thách Đức Chúa.”
13Ông I-sai-a bèn nói: “Nghe đây, hỡi nhà Đa-vít,
các ngươi làm phiền thiên hạ chưa đủ sao,
mà còn muốn làm phiền cả Thiên Chúa của tôi nữa ?
14Vì vậy, chính Chúa Thượng sẽ ban cho các ngươi một dấu:
Này đây người trinh nữ sẽ mang thai, sẽ sinh hạ con trai,
và đặt tên là Em-ma-nu-en.”
Bài đọc 2: Rm 1,1-7
Xuất thân từ dòng dõi vua Đa-vít, Đức Giê-su Ki-tô là Con Thiên Chúa.
Khởi đầu thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Rô-ma.
1 Tôi là Phao-lô, tôi tớ của Đức Ki-tô Giê-su ; tôi được gọi làm Tông Đồ, và dành riêng để loan báo Tin Mừng của Thiên Chúa. 2 Tin Mừng ấy, xưa Người đã dùng các ngôn sứ của Người mà hứa trước trong Kinh Thánh. 3 Đó là Tin Mừng về Con của Người là Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta.
Xét như một người phàm, Đức Giê-su Ki-tô xuất thân từ dòng dõi vua Đa-vít. 4 Nhưng xét như Đấng đã từ cõi chết sống lại nhờ Thánh Thần, Người đã được đặt làm Con Thiên Chúa với tất cả quyền năng.
5 Nhờ Người, chúng tôi đã nhận được đặc ân và chức vụ Tông Đồ, làm cho hết thảy các dân ngoại vâng phục Tin Mừng hầu danh Người được rạng rỡ. 6 Trong số đó, có cả anh em, là những người đã được kêu gọi để thuộc về Đức Giê-su Ki-tô.
7 Kính gửi tất cả anh em ở Rô-ma, những người được Thiên Chúa yêu thương, được kêu gọi làm dân thánh.
Xin Thiên Chúa là Cha chúng ta, và xin Chúa Giê-su Ki-tô ban cho anh em ân sủng và bình an.
Đức Giê-su sinh làm con bà Ma-ri-a. Bà đã thành hôn với ông Giu-se, con cháu vua Đa-vít.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
18 Sau đây là gốc tích Đức Giê-su Ki-tô: bà Ma-ri-a, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giu-se. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. 19 Ông Giu-se, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. 20 Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: “Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. 21 Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ.” 22 Tất cả sự việc này xảy ra là để ứng nghiệm lời Chúa phán xưa qua miệng ngôn sứ: 23 Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là “Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta”. 24 Khi tỉnh giấc, ông Giu-se làm như sứ thần Chúa dạy, và đón vợ về nhà.
===================
CON BÀ MARIA - CON CHÁU VUA ĐAVÍT
Qua Lời Tổng Nguyện của Chúa Nhật Tuần 4 Mùa Vọng, Năm A này, các nhà phụng vụ muốn chúng ta ý thức rằng: Chúa đã dùng lời thiên sứ truyền tin mà cho chúng ta biết thật Ðức Kitô, Con Chúa, đã xuống thế làm người. Xin Chúa đổ ơn thánh đầy lòng chúng ta, để nhờ công ơn Con Chúa chịu khổ hình thập giá, Chúa cũng cho ta được sống lại hiển vinh.
Con Chúa xuống thế làm người chịu khổ hình thập giá, để ta được hưởng lòng thương xót và sự giải cứu của Người, như trong bài đọc một của giờ Kinh Sách, trích sách ngôn sứ Isaia: Cuộc xuất hành mới. Có lúc Thiên Chúa đã khóc thương dân Người vì họ đã khinh thường, không trung thành với giao ước mà đánh mất hạnh phúc, nhưng không vì thế mà những lời hứa của Người hoá ra vô hiệu, trái lại lòng thương của Người còn mạnh hơn: từ khắp nơi, những người lưu đày đang trở về quê hương xứ sở. Lời hứa ấy được gửi đến cho mỗi người chúng ta như một lời mời gọi… Trời hãy hò reo, đất hãy nhảy múa, núi non hãy ca hát tưng bừng, vì Thiên Chúa chúng ta sẽ ngự đến. Đức Chúa sẽ chạnh lòng thương xót những kẻ nghèo khổ của Người. Triều đại Người đua nở hoa công lý, hoa thái bình thịnh trị.
Con Chúa xuống thế làm người chịu khổ hình thập giá, để ta được đầy tràn ân sủng mà hát mừng ơn cứu độ của Chúa, như trong bài đọc hai của giờ Kinh Sách, trích bài diễn giải của thánh Amrôxiô: Đức Mẹ đi thăm bà Êlisabét… Lạy Mẹ Maria, Mẹ thật là diễm phúc, vì đã vững tin rằng: Thiên Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã cho Mẹ biết. Mẹ đã ca hát ngợi khen Người. Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa. Hãy đến đây mà nghe tôi kể lại mọi việc Chúa đã làm để giúp tôi.
Con Chúa xuống thế làm người chịu khổ hình thập giá, để ta được nhìn thấy Chúa thực hiện lời hứa cứu độ của Người, như trong bài đọc một của Thánh Lễ, trích sách ngôn sứ Isaia: Này đây người trinh nữ sẽ mang thai. Trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 23: Chúa sẽ ngự vào: chính Người là Đức Vua vinh hiển. Chúa làm chủ trái đất cùng muôn vật muôn loài, làm chủ hoàn cầu với toàn thể dân cư. Nền trái đất, Người dựng trên biển cả, đặt vững vàng trên làn nước mênh mông. Trong bài đọc hai của Thánh Lễ, trích thư của thánh Phaolô tông đồ gửi tín hữu Rôma: Xuất thân từ dòng dõi vua Đavít, Đức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa.
Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuen, nghĩa là “Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta”. Trong bài Tin Mừng, thánh Mátthêu tường thuật: Đức Giêsu sinh làm con bà Maria. Bà đã thành hôn với ông Giuse, con cháu vua Đavít. Trinh Nữ thụ thai và sinh hạ con trai: là Đấng Emmanuen, xuất thân từ dòng dõi vua Đavít, Đấng mà muôn dân hằng trông đợi, dòng dõi những kẻ kiếm tìm Chúa, tìm thánh nhan Thiên Chúa nhà Giacóp sẽ được ở trong đền thánh, khi Đức Vua ngự đến: trời hò reo, đất nhảy múa, núi non ca hát tưng bừng, vì Thiên Chúa chúng ta ngự đến, Người chạnh lòng thương xót những kẻ nghèo khổ của Người. ĐỨC CHÚA, Đấng cứu chuộc ta, Đấng dạy ta những điều bổ ích, Đấng hướng dẫn ta trên đường ta đi. Giả như ta lưu ý đến mệnh lệnh của Người, thì sự bình an của ta sẽ chan chứa như dòng sông, sự công chính của ta sẽ dạt dào như sóng biển. Từ tảng đá, Người khiến nước chảy ra cho ta dùng, như bầy chiên, ta sẽ được nuôi ăn trên các nẻo đường, sẽ gặp được đồng cỏ trên mọi đồi hoang. Đấng là con bà Maria, con nuôi của ông Giuse, con cháu vua Đavít, Người Con của lời hứa sẽ cứu độ ta, nếu, ta đặt hết niềm tin tưởng, cậy trông, tín thác nơi Người. Chúa đã dùng lời thiên sứ truyền tin mà cho chúng ta biết thật Ðức Kitô, Con Chúa, đã xuống thế làm người. Nhờ công ơn Con Chúa chịu khổ hình thập giá, ước gì chúng ta được sống lại hiển vinh. Ước gì được như thế!
Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB
=====================
“CHÚA Ở VỚI CON”
Chuyện kể rằng: Một linh mục người Ai-len tên là Gio-an đã dành nhiều năm tận tâm đồng hành và thuyết phục chàng thanh niên bỏ đạo trở về với Giáo hội, nhưng mọi thứ trở nên tốn công vô vọng, vì bao lời khuyên răn vẫn chỉ là số không. Tuy nhiên, một lần nọ, Mẹ Tê-rê-sa Cal-cút-ta (hiện giờ là Thánh nhân) được mời đến thăm viếng nước Ai-len. Ban tổ chức đã cố gắng sắp xếp một buổi nói chuyện thân mật giữa Mẹ với các bạn trẻ. Trong cuộc chuyện trò, Mẹ chỉ nói về tình yêu Thiên Chúa một cách giản dị: ‘Chúa yêu thương các bạn; Ngài luôn đồng hành với các bạn’. Sau đó Mẹ rời thành phố, mọi người trở về nhà mình.
Và cũng chính ngày này, một hồi chuông điện thoại reo vang đánh thức cha Gio-an lúc nửa đêm. Ngài nhấc vội chiếc điện thoại, và đầu dây bên kia là giọng nói của chàng thanh niên năm nào: ‘Alô thưa cha, con muốn xưng tội. Con muốn trở về với Giáo hội ạ!’
– Chuyện gì xảy ra với con vậy? Vị linh mục hỏi lại. Ngài tưởng chừng chàng thanh niên đang bị tai nạn hiểm nghèo đâu đó, nên vội dọn mình từ biệt ra đi.
Nhưng anh ta trả lời: ‘Thưa cha, vì chiều nay Mẹ Tê-rê-sa đã đánh động lòng con với một câu nói ạ!’.
Vị linh mục ngạc nhiên: ‘Thế à, vậy Mẹ nói lời gì? Chắc hẳn nơi diễn ra buổi nói chuyện với Mẹ không còn chỗ trống, và như vậy, Mẹ đâu có cơ hội để gặp riêng con?’
– Vâng thưa cha, Mẹ không gặp riêng con, nhưng Mẹ đã nói với mọi người, trong đó có con. Mẹ nói rằng: ‘Chúa ở với các con!’
Vừa nghe xong, cha Gio-an càng ngạc nhiên hơn: ‘Chẳng phải nhiều lần cha đã nói với con như thế sao, mà hôm nay con mới bị đánh động bởi lời nói ấy của Mẹ Tê-rê-sa?’
Chàng thanh niên từ tốn giải thích: ‘Thưa cha, vì Mẹ đã nói câu đó với cả con tim, từ trong sâu thẳm của tâm hồn. Mẹ đã nói với con bằng tất cả con người của Mẹ’.
Quả thật, lời nói không xuất phát từ một chuỗi công thức có sẵn hay do một thói quen xã giao thông thường nào đấy thúc đẩy, mà nó khởi đi từ tâm hồn yêu thương hết mực mới thuyết phục, hoán cải, và truyền đạt được ý nghĩa chân thực nhất của danh hiệu Emmanuel - Thiên Chúa-ở-cùng-chúng ta. Không chỉ là danh hiệu đơn thuần, mà là lời cam kết của Thiên Chúa đã yêu thương con người chúng ta từ thuở ban đầu: “…Này đây một trinh nữ sẽ thụ thai, hạ sinh một con trai, và tên con trẻ sẽ gọi là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa-ở-cùng chúng ta” (Is 7, 14). Đây chẳng phải là lời hứa suông, lời hứa cho vui lòng ‘chư dân’, mà là chương trình Thiên Chúa trao ban ơn cứu độ (nhiệm cục cứu độ) cho nhân loại.
Thiên Chúa không nói hai lời, không sống hai lòng, hay ‘đầu môi chót lưỡi’ như con người yếu hèn chúng ta, mà Ngài thực hiện kế hoạch yêu thương - cứu rỗi con người qua lời các ngôn sứ từ ngàn năm trước cho đến thời Tân ước: “Này đây một trinh nữ sẽ mang thai và hạ sinh một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa-ở-cùng-chúng ta” (Mt 1, 23).
Người ta thường nói: ‘Nhập gia tuỳ tục’. Nhưng Chúa ‘nhập thế’ theo cách của Ngài. Thiên Chúa ‘nhập gia’ không cần ‘tuỳ tục’. Ngài đi vào cuộc đời chúng ta, bước vào ‘căn nhà’ của Mẹ Ma-ri-a, Thánh Giu-se và tất cả chúng ta, nhưng không làm theo những gì chúng ta đã sắp xếp, mà trái lại, Ngài thực hiện theo thánh ý. Vậy, Thiên Chúa-ở-cùng-chúng ta (Emmanuel) trong mọi khoảnh khắc đời thường, khi vui mừng cũng như lúc đau buồn, khi thành công cũng như lúc thất bại, khi được hậu thuẫn cũng như lúc bị chống đối, khi khoẻ mạnh cũng như lúc bệnh tật, v.v…Thiên Chúa-ở-cùng-chúng ta kể cả khi chúng ta khước từ hoặc không nhận ra sự hiện diện của Ngài. Thiên Chúa-ở-cùng-chúng ta trên mọi nẻo đường chúng ta đi, trong mọi biến cố cuộc sống (sinh-lão-bệnh-tử), nơi những gì chúng ta hoạch định, dự kiến…
Ngạn ngữ Ni-gê-ri-a có câu: ‘Hãy lắng nghe, và bạn sẽ nghe được những bước chân của các con kiến’. Nào ai nghe được âm thanh phát ra từ bước đi của những chú kiến! Tuy nhiên, nếu chú tâm và lắng nghe bằng con tim, chúng ta sẽ cảm nhận được, thậm chí ‘âm thanh của sự tĩnh lặng’. Với tâm tình ấy, chúng ta cảm nghiệm sâu sắc hơn tình yêu mà Thiên Chúa dành cho bản thân, cho gia đình, cho cộng đoàn, v.v…qua sự hiện diện khôn cùng của Ngài - Thiên Chúa-ở-cùng-chúng ta (Emmanuel). Chỉ có thế, tâm hồn chúng ta sẽ được chạm tới, sẽ được đánh động, sẽ bình tâm, sẽ được hứng khởi vì ‘Chúa-ở-cùng-chúng ta’. Ước gì, chúng ta cũng năng tháp nhập và ở-cùng-với Chúa trong ân sủng của Ngài.
Em-ma-nu-el, Chúa ở cùng con
Với tấm lòng son, trọn niềm trìu mến
Không lời từ khước, bước vào tâm can
Thánh hoá hồn con, sướng vui ngập tràn. Amen!
Lm. Xuân Hy Vọng
====================
Nếu Mùa Vọng là thời gian Thiên Chúa đến, thì Tin Mừng hôm nay cho thấy: Thiên Chúa đến qua những con người biết để cho kế hoạch của Ngài đi ngang qua đời mình, dù điều đó làm đảo lộn tất cả.
1. Một biến cố gây khủng hoảng đức tin
“Bà Maria, mẹ Người, đã đính hôn với ông Giuse, trước khi hai ông bà về chung sống, thì đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần.” (c.18) Câu Tin Mừng được viết rất ngắn, nhưng đối với thánh Giuse, đó là một cơn địa chấn nội tâm. Người đàn ông công chính này đang đứng trước một thực tại không thể hiểu, không thể giải thích, và cũng không thể chấp nhận theo lối thông thường.
Đức tin của Giuse không bị thử thách bởi đau khổ thể lý, nhưng bởi một nghịch lý đạo đức: làm sao tin rằng điều trái với mọi kinh nghiệm nhân loại lại là công trình của Thiên Chúa? Nhiều khi đời sống đức tin của chúng ta cũng rơi vào tình trạng ấy. Không phải vì thiếu đạo đức, nhưng vì thực tại xảy đến vượt quá những gì ta từng hiểu về Thiên Chúa.
2. Sự công chính của trái tim
“Ông Giuse, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà…” (c.19) Công chính, theo não trạng Do Thái, thường gắn liền với việc tuân giữ Lề Luật. Nhưng nơi thánh Giuse, công chính không dẫn tới kết án, mà dẫn tới xót thương. Ông không chọn con đường đúng luật nhất, nhưng chọn con đường ít làm tổn thương nhất.
Đây là một bước tiến rất lớn trong lịch sử mặc khải: sự công chính mà Thiên Chúa mong muốn không phải là công chính của luật lệ, mà là công chính của trái tim. Giuse trở nên giống Thiên Chúa không phải vì ông hiểu được mầu nhiệm, mà vì ông chọn yêu thương khi chưa hiểu.
3. Thinh lặng – không gian Thiên Chúa cất tiếng
“Ông đang suy nghĩ như vậy, thì sứ thần Chúa hiện đến báo mộng…” (c.20) Điều đáng chú ý là: Thiên Chúa không can thiệp ngay lập tức, nhưng chờ Giuse suy nghĩ, chờ ông đi hết con đường lương tâm của mình. Chính trong thinh lặng ấy, khi Giuse không lên tiếng kết án, không vội hành động, thì Thiên Chúa mới cất lời.
Quyết định “bỏ đi cách kín đáo” không phải là trốn chạy, mà là một bước lùi khiêm tốn, để dành chỗ cho Thiên Chúa hành động. Giuse không chiếm chỗ của Thiên Chúa trong mầu nhiệm đang diễn ra, và vì thế, ông được mời gọi bước vào mầu nhiệm ấy theo cách sâu xa hơn.
4. Emmanuel – Dấu chỉ của niềm tin
“Này đây trinh nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai… Người sẽ được gọi là Emmanuel.” (c.23) Lời Kinh Thánh mà thánh Mátthêu trích dẫn đã được ngôn sứ Isaia công bố trong một hoàn cảnh đầy bất an. Vua Akhát bị đe dọa bởi ngoại bang và muốn cậy nhờ liên minh quân sự. Isaia kêu gọi ông đừng sợ, đừng dựa vào thế lực con người, nhưng hãy đặt niềm tin nơi Thiên Chúa.
Dấu chỉ Thiên Chúa ban không phải là một đạo quân, mà là một hài nhi mang tên Emmanuel – Thiên Chúa ở cùng chúng ta – trở thành bảo chứng rằng Thiên Chúa không bỏ rơi dân Ngài giữa cơn khủng hoảng.
Nơi Đức Giêsu, lời hứa ấy đạt đến sự viên mãn: Emmanuel không chỉ là lời trấn an nhất thời, mà là sự hiện diện vĩnh viễn của Thiên Chúa giữa lòng nhân loại. Trước khi về trời, Đức Giêsu cũng hứa với chúng ta: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). Xác tín điều ấy, chúng ta không còn lo sợ gì giữa những thử thách hôm nay.
5. Vâng phục trong thinh lặng
“Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy.” (c.24) Để Con Thiên Chúa làm người, cần tiếng Xin Vâng của Đức Maria, nhưng cũng không thể thiếu tiếng Xin Vâng của thánh Giuse. Đón nhận Maria đang mang thai và đặt tên cho Hài Nhi, Giuse bước vào vai trò người cha theo ý định của Thiên Chúa.
Thiên Chúa toàn năng có thể cứu độ nhân loại chỉ bằng một lời phán, nhưng Ngài đã chọn con đường cần đến sự cộng tác tự do của con người. Khi vâng phục, Giuse chấp nhận thiệt thòi trước mắt, nhưng lại mở lối cho mầu nhiệm Nhập Thể được hoàn tất. Tiếng Xin Vâng âm thầm, nhưng có sức đổi thay lịch sử.
Hướng về lễ Giáng Sinh, Hội Thánh mời gọi chúng ta tin rằng Thiên Chúa vẫn đang ở cùng và hành động trong đời sống thường ngày. Nếu chúng ta dám thưa tiếng Xin Vâng như Đức Maria và thánh Giuse, thì chính đời sống bé nhỏ của chúng ta cũng trở thành nơi Thiên Chúa tiếp tục hiện diện và cứu độ thế giới.
Cầu nguyện
Thánh Giuse ngay từ đầu không biết,
nên âm thầm đã dự định bỏ đi,
nhưng khi ngài biết được là thánh ý,
liền sẵn sàng vui đón nhận thực thi.
Để Ngôi Lời xuống làm người thật,
cần có tiếng Xin Vâng của hai đấng,
và các ngài không xá kể bản thân,
từ bỏ hết để góp phần với Chúa,
dẫu đường đời phía trước đầy cơ cực,
nhưng lòng tin phó thác chẳng chuyển lay.
Con tin rằng trong cuộc sống hôm nay,
Chúa vẫn luôn mời gọi con mỗi ngày,
qua Lời Chúa qua biến cố đổi thay,
qua rủi may hay buồn vui sướng khổ,
Chúa vẫn luôn hiện diện trong mọi chỗ,
vẫn đồng hành và nâng đỡ hộ phù,
Xin Chúa thương ở cùng con trọn vẹn,
dẫu đời con vẫn có những hư hèn,
để từ đây con dứt bỏ mọi bon chen,
sống cho Chúa như lời xưa ước hẹn.
Lm. Thái Nguyên
====================
TRUYỀN TIN CHO THÁNH GIUSE
Thánh sử Matthêu từng ghi nhận: “Ông Giacóp sinh ông Giuse, chồng của bà Maria, bà là mẹ Đức Giêsu cũng gọi là đấng Kitô.” (Mt 1,16). Ông Giuse thuộc dòng dõi của những người không chỉ sang trọng mà là những người công chính. Đọc gia phả ta thấy Giuse thuộc dòng dõi thánh Vương Đavít, người đã tin vào lời hứa của Thiên Chúa. Tổ phụ Abraham cũng được nên công chính nhờ lòng tin.
Theo trình thuật của thánh Matthêu hôm nay, cuộc hôn nhân của ông Giuse với bà Maria ngay từ đầu đã gặp phải sấm sét giông tố bão bùng. Trước khi về chung sống, Giuse bị quá sốc vì không biết từ đâu mà nàng đã… “có bầu”! Chẳng còn gì thất vọng, buồn bã, chán trường hơn được nữa. Trinh nữ của ông, bạn đời vô cùng yêu dấu, rất mực đoan trang đạo đức, nguyện trăm năm hạnh phúc bên nhau… Thế là hết, mộng vỡ tan tành! Biết làm sao bây giờ? Người tốt có xử đẹp thì cũng chỉ còn cách… “đầu hàng chạy trốn” cuộc hôn nhân ngang trái ấy mà thôi. “Ông Giuse, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo.” (Mt 1, 19). Đang cơn thử thách quá đớn đau bỗng có “Bàn Tay của Đấng Vô Hình” chặn lại: “Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: “Này ông Giuse con cháu Đavít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ.” (Mt 1, 20-21). Là người “công chính”, ông không hành xử theo toan tính người phàm, nên dù trong đêm tối cuộc đời, ông vẫn “lắng nghe” Lời Chúa qua sứ thần với lòng tin. Lời Chúa như ánh sao đêm trường làm tâm tư ông bừng sáng! Thế là như người sực tỉnh cơn mê, ông mới à ra mọi sự. Ông tin “bởi Chúa Thánh Thần” là sự thật không thể lầm lạc. Ông quyết tâm hành động theo sự hướng dẫn của Thánh Thần dù chưa biết tương lai vất vả chuân chuyên ra sao. Ông hân hoan vui vẻ đón nhận và làm theo Thánh Ý. Ông vui vẻ hiến dâng trinh nữ bạn đời cho Thiên Chúa để sống trọn đời thanh khiết. Ông tự hiến mình để gánh lấy trọng trách “làm cha” Chúa của mình: “… ông phải đặt tên… Khi “tỉnh giấc”, ông Giuse “làm” như sứ thần Chúa dạy.” (Mt 1, 24). Nhờ “người công chính” này mà chương trình cứu độ của Thiên Chúa được thực hiện trọn vẹn.
Chúa ơi! thuở xưa Chúa mới nhập thể, thánh Giuse được hạnh phúc “làm cha” của Chúa, được ở gần bên, ăn cùng mâm, sống trong một nhà, được giữ gìn chăm sóc nuôi nấng, dõi từng bước đi của Chúa Trời, Ngài hạnh phúc quên cả mọi đớn đau thiệt thòi mất mát, sẵn sàng hiến dâng trọn đời cho Chúa và công trình cứu độ của Thiên Chúa. Cảm tạ Chúa vì nhờ và qua thánh cả Giuse, để đến hôm nay chúng con được ngàn lần hạnh phúc hơn: trong đức tin chúng con được nuôi dưỡng bởi Thịt Máu Chúa, được sung sướng bước đi trong bàn tay ánh mắt yêu thương của Chúa, dù đời có muôn vàn khổ đau. Nhờ tin vào Chúa chúng con sẽ được công chính hóa, Chúa sẽ thực hiện Thánh Ý lạ lùng trong khối óc con tim trần tục, chân yếu tay mềm của người dương thế chúng con. Amen.
Én Nhỏ
=====================
THÁNH GIUSE – NGƯỜI CÔNG CHÍNH ĐÓN NHẬN MẦU NHIỆM
Tin Mừng Matthêu chương 1, từ câu 18 đến 25, mở ra cho chúng ta một khung cảnh thánh thiêng và rất con người – bối cảnh của một cuộc lưỡng nan, một sự giằng co nội tâm sâu sắc trong lòng một người đàn ông công chính: thánh Giuse. Đây không phải là một khởi đầu thần kỳ ồn ào cho sự giáng sinh của Đấng Cứu Thế, nhưng lại là khởi điểm thinh lặng, chất chứa nỗi khổ tâm và sự phân định đầy tinh thần trách nhiệm. Bản văn khởi đầu bằng một sự kiện gây chấn động: Maria, vị hôn thê của Giuse, mang thai trước khi hai người về sống chung.
Trong xã hội Do Thái lúc bấy giờ, hôn nhân gồm hai giai đoạn: đính hôn và về chung sống. Trong thời gian đính hôn, đôi bên đã được coi là vợ chồng hợp pháp, nhưng chưa sống chung và chưa có quan hệ vợ chồng. Nếu một người phụ nữ mang thai trong giai đoạn này, đó là điều không thể chấp nhận được, và theo luật Môsê, người phụ nữ có thể bị xử ném đá. Thánh Giuse, biết rõ hoàn cảnh và nhận thấy điều xảy ra nơi Maria vượt khỏi khả năng hiểu biết của mình, đã chọn một giải pháp mang chiều kích nhân bản sâu sắc: “ông là người công chính, không muốn tố giác bà, nên định tâm lìa bỏ bà cách kín đáo”.
Cụm từ “người công chính” ở đây không chỉ diễn tả một người giữ luật, nhưng là một người sống theo thánh ý Thiên Chúa, luôn tìm cách hành xử với lòng kính sợ và bác ái. Giuse không vội kết án Maria, cũng không hành xử như một người bị phản bội; trái lại, ông âm thầm tìm giải pháp để gìn giữ danh dự cho Maria và đồng thời giữ trọn sự công chính của mình. Nhưng khi con người đã làm hết sức trong sự ngay lành, thì Thiên Chúa sẽ can thiệp bằng con đường của Người. Thiên thần hiện đến trong giấc mơ và gọi Giuse bằng một danh xưng đầy ý nghĩa: “Hỡi Giuse, con vua Đavít”. Lời nhắc đến dòng tộc Đavít cho thấy Giuse là mắt xích cần thiết để hoàn tất lời hứa Thiên Chúa đã ban cho dân Israel: rằng từ dòng dõi Đavít sẽ xuất hiện một vị cứu tinh.
Và thiên thần truyền lệnh: “Đừng ngại nhận Maria về nhà làm bạn mình, vì Maria mang thai là bởi phép Chúa Thánh Thần”. Câu nói ấy làm sáng tỏ tất cả: Maria không phạm tội; trái lại, chính Thiên Chúa đang thực hiện một kỳ công vĩ đại nơi người nữ khiêm hạ ấy. Giuse được mời gọi cộng tác trong mầu nhiệm cứu độ, không phải như người cha sinh học, nhưng là người cha hợp pháp, người đón nhận, bảo vệ, dưỡng nuôi và đồng hành với Hài Nhi Cứu Thế. Hành động của thánh Giuse sau khi tỉnh giấc không hề có một lời phản biện hay thắc mắc. Ông lặng thinh, nhưng hành động dứt khoát: “Ông làm như thiên thần Chúa truyền: ông đón vợ về nhà”. Sự vâng phục hoàn toàn, không trì hoãn, không điều kiện, là một bằng chứng sống động cho thấy thánh Giuse là con người của lòng tin sâu xa và lòng mến đậm đà.
Đặc biệt, ông tuân giữ sự thánh thiện tuyệt đối khi “không ăn ở với Maria cho đến khi bà sinh con trai đầu lòng”, và chính ông – người cha hợp pháp – đã đặt tên cho Hài Nhi là Giêsu. Việc đặt tên không chỉ là nghi thức pháp lý, nhưng còn là sự công nhận tư cách làm cha, đồng thời làm tròn sứ mạng Thiên Chúa giao phó. Tên Giêsu nghĩa là “Thiên Chúa cứu độ” – một danh xưng tóm gọn trọn vẹn sứ mạng của Đấng Cứu Thế. Tác giả Tin Mừng cũng trích dẫn lời ngôn sứ Isaia: “Này đây một trinh nữ sẽ mang thai, sinh hạ con trai và đặt tên là Emmanuel – nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta”. Như thế, trong con người Giêsu, hai ý nghĩa hòa làm một: vừa là Thiên Chúa cứu độ, vừa là Thiên Chúa hiện diện giữa dân Người. Sự giáng sinh ấy không chỉ là một sự kiện lịch sử, mà là mầu nhiệm của Tình Yêu nhập thể – Tình Yêu vô biên đã bước vào lịch sử con người, chọn ở lại với con người, và cứu chuộc con người từ bên trong.
Khi suy niệm đoạn Tin Mừng này trong bối cảnh lễ Giáng Sinh và trong đời sống người tín hữu hôm nay, chúng ta được mời gọi học nơi thánh Giuse nhiều điều rất thiết thực và sâu xa. Trước hết, đó là thái độ của một người công chính: luôn sống trong sự ngay lành và quảng đại. Dù đối diện với hoàn cảnh khó hiểu, thánh Giuse không hành động theo cảm xúc hay sự tức giận, nhưng chọn thái độ âm thầm, tôn trọng và hiền hòa. Trong xã hội hôm nay, khi con người dễ lên án, dễ loại trừ và dễ nổi giận, thì thái độ khoan dung và âm thầm của thánh Giuse là một gương sáng tuyệt vời.
Thứ đến, đó là sự vâng phục trọn vẹn thánh ý Thiên Chúa. Giuse không đòi hỏi phải hiểu rõ mọi sự mới làm theo; ông tin tưởng, và trong niềm tin ấy, ông hành động. Đời sống người tín hữu hôm nay cũng thường xuyên gặp những tình huống khó hiểu, những biến cố không như ý, những nghịch cảnh trong gia đình, công việc, sức khỏe, tương lai… nhưng nếu biết đặt niềm tin vào Thiên Chúa, để Chúa dẫn dắt, thì ngay trong đêm tối cũng sẽ thấy được ánh sáng của ơn cứu độ. Ngoài ra, thánh Giuse còn dạy chúng ta biết sống âm thầm, không ồn ào, không tìm danh tiếng, nhưng âm thầm thi hành bổn phận trong gia đình, trong công việc, trong đời sống đạo. Giữa một thế giới đề cao cái tôi, quảng bá hình ảnh cá nhân, thì gương sống thầm lặng của thánh Giuse là một ngôn sứ mạnh mẽ về giá trị của nội tâm, của chiêm niệm và sự hiện diện yêu thương không phô trương.
Trong các gia đình hôm nay, người cha – người mẹ cũng được mời gọi noi gương thánh Giuse: là chỗ dựa vững chắc trong đức tin, là người kiến tạo không khí bình an và kính sợ Thiên Chúa, là người không áp đặt quyền uy nhưng biết đồng hành và bảo vệ gia đình trong yêu thương. Thêm vào đó, thái độ của Giuse còn mời gọi chúng ta biết đón nhận mầu nhiệm trong đời thường. Có những điều vượt quá tầm hiểu biết của lý trí, nhưng đức tin sẽ giúp chúng ta bước vào một chiều kích sâu hơn, nơi đó Thiên Chúa đang âm thầm hoạt động. Đôi khi, kế hoạch của Chúa không như dự tính của chúng ta, nhưng nếu biết ngoan ngoãn vâng theo, thì chính trong sự “khác thường” ấy, ơn cứu độ lại bừng sáng.
Như Maria đã vâng lời “xin vâng” trong ngày truyền tin, thì Giuse cũng đã vâng lời trong thinh lặng – để cả hai cùng cộng tác với kế hoạch mầu nhiệm của Thiên Chúa. Và một điều hết sức quan trọng: thánh Giuse đã đặt tên con trẻ là Giêsu – nghĩa là “Thiên Chúa cứu độ”. Mỗi người tín hữu hôm nay cũng được mời gọi “đặt tên” cho Chúa trong đời sống mình, nghĩa là đặt Người làm trung tâm, là ưu tiên, là nền tảng của mọi chọn lựa. Chúa Giêsu không phải là một kỷ niệm Giáng Sinh hay một biểu tượng lễ hội, mà là một Ngôi Vị sống động đang hiện diện giữa chúng ta, đang ở với chúng ta, đang cứu độ chúng ta trong từng hoàn cảnh. Khi chúng ta tin nhận Người, khi chúng ta để Người bước vào gia đình mình, vào trái tim mình, vào những chọn lựa và đau khổ của mình, thì lúc ấy, Lễ Giáng Sinh thực sự xảy ra – không chỉ trong hang đá, mà ngay trong lòng đời. Và như thế, đời sống người tín hữu sẽ trở thành một “đền thờ sống động”, nơi Emmanuel – Thiên Chúa ở cùng chúng ta – tiếp tục giáng sinh mỗi ngày, qua những nghĩa cử yêu thương, qua sự tha thứ, kiên nhẫn, khiêm nhường và dấn thân phục vụ.
Nguyện xin thánh Giuse, người công chính và cha nuôi của Đấng Cứu Thế, cầu bầu cho chúng ta biết sống với niềm tin mạnh mẽ, biết lắng nghe tiếng Chúa trong thinh lặng, biết can đảm vâng phục và cộng tác với Chúa trong mọi hoàn cảnh. Xin cho chúng ta cũng trở thành những người “đặt tên Giêsu” cho thế giới hôm nay – nghĩa là làm chứng rằng chỉ có Chúa Giêsu mới cứu độ, mới mang lại bình an đích thực, và chỉ nơi Người chúng ta mới tìm được ý nghĩa cuộc sống. Amen.
Lm. Anmai, CSsR
=========================
THIÊN CHÚA LÀM NGƯỜI (Mt 1,18-24)
“Thiên Chúa ở cùng chúng ta.”
Kính thưa cộng đoàn,
Mầu nhiệm Giáng Sinh là mầu nhiệm vượt quá sức tưởng tượng của con người. Một Thiên Chúa, Đấng dựng nên con người, lại sinh xuống đón nhận thân phận con người, sống như con người để cứu độ con người. Thiên Chúa có thể dùng quyền phép để giải thoát con người khỏi ách nô lệ tội lỗi. Nhưng Ngài không dùng quyền năng, mà tự hủy ra không để đồng cảm với con người. Mầu nhiệm Nhập thể được ngôn sứ I-sai-a đã loan báo: “Này đây người trinh nữ sẽ mang thai, sẽ sinh hạ con trai, và đặt tên là Em-ma-nu-en.” (Is 7,14). Lời tiên tri của ngôn sứ I-sai-a cách Chúa Giê-su giáng sinh vào khoảng những năm 734-732 trước công nguyên. Sau khoảng 7 thế kỷ, lời tiên báo được thực hiện. Thiên Chúa sai sứ thần đến báo mộng cho ông Giu-se biết việc Ngôi Hai nhập thể. Thiên Chúa chọn ông Giu-se làm cha của Ngôi Hai trong thân phận con người. Sứ thần mạc khải cho ông Giu-se biết việc nhập thể do bởi quyền năng Chúa Thánh Thần. Thiên Chúa trao ban sứ mạng làm cha hợp pháp của Ngôi Hai qua việc đặt tên “Ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su.”. Hơn nữa, sứ thần cũng nhắc ông Giu-se nhớ lại lời của ngôn sứ I-sai-a: “Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta.” Ông Giu-se là người công chính trước mặt Thiên Chúa. Chắc chắn ông cũng là người đọc Kinh Thánh. Ông được nghe Lời Chúa mỗi ngày Sa-bát. Nhờ đó, ông hiểu được lời của sứ thần nói: Đức Ma-ri-a chính là người Trinh Nữ được Thiên Chúa tuyển chọn. Giờ đây, ông hãy đón nhận bà Ma-ri-a làm vợ như đã định. Ông Giu-se đón nhận thánh ý Thiên Chúa và đón nhận Ngôi Hai xuống thế làm người.
Đối với các tín hữu, mỗi người tin tưởng vào việc Thiên Chúa làm người. Chúa Giê-su xuất thân từ dòng dõi vua Đa-vít trong bản tính nhân loại. Chính Thánh Phao-lô đã khẳng định: “Xét như một người phàm, Đức Giê-su Ki-tô xuất thân từ dòng dõi vua Đa-vít. Nhưng xét như Đấng đã từ cõi chết sống lại nhờ Thánh Thần, Người đã được đặt làm Con Thiên Chúa với tất cả quyền năng.” (Rm 1,3-4), Như vậy, Chúa Giê-su vừa làm con vua Đa-vít xét trong bản tính nhân loại, vừa làm Chúa của vua Đa-vít xét theo bản tính Thiên Chúa. Chúng ta hãy tuyên xưng vào mầu nhiệm Nhập thể của Ngôi Hai Thiên Chúa. Hơn hết, chúng ta tin tưởng vào ơn cứu độ của Thiên Chúa dành cho con người, như lời Thánh Au-gút-ti-nô đã nói: “Đấng tạo dựng con người đã trở nên con người, để con người được nâng lên cùng Thiên Chúa.”
Lạy Chúa, xin cho con luốn biết sống mầu nhiệm Nhập thể trong suốt đời con. A-men.
Jos. Nguyễn
====================
Nếu Mùa Vọng là thời gian Thiên Chúa đến, thì Tin Mừng hôm nay cho thấy: Thiên Chúa đến qua những con người biết để cho kế hoạch của Ngài đi ngang qua đời mình, dù điều đó làm đảo lộn tất cả.
1. Một biến cố gây khủng hoảng đức tin
“Bà Maria, mẹ Người, đã đính hôn với ông Giuse, trước khi hai ông bà về chung sống, thì đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần.” (c.18) Câu Tin Mừng được viết rất ngắn, nhưng đối với thánh Giuse, đó là một cơn địa chấn nội tâm. Người đàn ông công chính này đang đứng trước một thực tại không thể hiểu, không thể giải thích, và cũng không thể chấp nhận theo lối thông thường.
Đức tin của Giuse không bị thử thách bởi đau khổ thể lý, nhưng bởi một nghịch lý đạo đức: làm sao tin rằng điều trái với mọi kinh nghiệm nhân loại lại là công trình của Thiên Chúa? Nhiều khi đời sống đức tin của chúng ta cũng rơi vào tình trạng ấy. Không phải vì thiếu đạo đức, nhưng vì thực tại xảy đến vượt quá những gì ta từng hiểu về Thiên Chúa.
2. Sự công chính của trái tim
“Ông Giuse, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà…” (c.19) Công chính, theo não trạng Do Thái, thường gắn liền với việc tuân giữ Lề Luật. Nhưng nơi thánh Giuse, công chính không dẫn tới kết án, mà dẫn tới xót thương. Ông không chọn con đường đúng luật nhất, nhưng chọn con đường ít làm tổn thương nhất.
Đây là một bước tiến rất lớn trong lịch sử mặc khải: sự công chính mà Thiên Chúa mong muốn không phải là công chính của luật lệ, mà là công chính của trái tim. Giuse trở nên giống Thiên Chúa không phải vì ông hiểu được mầu nhiệm, mà vì ông chọn yêu thương khi chưa hiểu.
3. Thinh lặng – không gian Thiên Chúa cất tiếng
“Ông đang suy nghĩ như vậy, thì sứ thần Chúa hiện đến báo mộng…” (c.20) Điều đáng chú ý là: Thiên Chúa không can thiệp ngay lập tức, nhưng chờ Giuse suy nghĩ, chờ ông đi hết con đường lương tâm của mình. Chính trong thinh lặng ấy, khi Giuse không lên tiếng kết án, không vội hành động, thì Thiên Chúa mới cất lời.
Quyết định “bỏ đi cách kín đáo” không phải là trốn chạy, mà là một bước lùi khiêm tốn, để dành chỗ cho Thiên Chúa hành động. Giuse không chiếm chỗ của Thiên Chúa trong mầu nhiệm đang diễn ra, và vì thế, ông được mời gọi bước vào mầu nhiệm ấy theo cách sâu xa hơn.
4. Emmanuel – Dấu chỉ của niềm tin
“Này đây trinh nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai… Người sẽ được gọi là Emmanuel.” (c.23) Lời Kinh Thánh mà thánh Mátthêu trích dẫn đã được ngôn sứ Isaia công bố trong một hoàn cảnh đầy bất an. Vua Akhát bị đe dọa bởi ngoại bang và muốn cậy nhờ liên minh quân sự. Isaia kêu gọi ông đừng sợ, đừng dựa vào thế lực con người, nhưng hãy đặt niềm tin nơi Thiên Chúa.
Dấu chỉ Thiên Chúa ban không phải là một đạo quân, mà là một hài nhi mang tên Emmanuel – Thiên Chúa ở cùng chúng ta – trở thành bảo chứng rằng Thiên Chúa không bỏ rơi dân Ngài giữa cơn khủng hoảng.
Nơi Đức Giêsu, lời hứa ấy đạt đến sự viên mãn: Emmanuel không chỉ là lời trấn an nhất thời, mà là sự hiện diện vĩnh viễn của Thiên Chúa giữa lòng nhân loại. Trước khi về trời, Đức Giêsu cũng hứa với chúng ta: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). Xác tín điều ấy, chúng ta không còn lo sợ gì giữa những thử thách hôm nay.
5. Vâng phục trong thinh lặng
“Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy.” (c.24) Để Con Thiên Chúa làm người, cần tiếng Xin Vâng của Đức Maria, nhưng cũng không thể thiếu tiếng Xin Vâng của thánh Giuse. Đón nhận Maria đang mang thai và đặt tên cho Hài Nhi, Giuse bước vào vai trò người cha theo ý định của Thiên Chúa.
Thiên Chúa toàn năng có thể cứu độ nhân loại chỉ bằng một lời phán, nhưng Ngài đã chọn con đường cần đến sự cộng tác tự do của con người. Khi vâng phục, Giuse chấp nhận thiệt thòi trước mắt, nhưng lại mở lối cho mầu nhiệm Nhập Thể được hoàn tất. Tiếng Xin Vâng âm thầm, nhưng có sức đổi thay lịch sử.
Hướng về lễ Giáng Sinh, Hội Thánh mời gọi chúng ta tin rằng Thiên Chúa vẫn đang ở cùng và hành động trong đời sống thường ngày. Nếu chúng ta dám thưa tiếng Xin Vâng như Đức Maria và thánh Giuse, thì chính đời sống bé nhỏ của chúng ta cũng trở thành nơi Thiên Chúa tiếp tục hiện diện và cứu độ thế giới.
Cầu nguyện
Thánh Giuse ngay từ đầu không biết,
nên âm thầm đã dự định bỏ đi,
nhưng khi ngài biết được là thánh ý,
liền sẵn sàng vui đón nhận thực thi.
Để Ngôi Lời xuống làm người thật,
cần có tiếng Xin Vâng của hai đấng,
và các ngài không xá kể bản thân,
từ bỏ hết để góp phần với Chúa,
dẫu đường đời phía trước đầy cơ cực,
nhưng lòng tin phó thác chẳng chuyển lay.
Con tin rằng trong cuộc sống hôm nay,
Chúa vẫn luôn mời gọi con mỗi ngày,
qua Lời Chúa qua biến cố đổi thay,
qua rủi may hay buồn vui sướng khổ,
Chúa vẫn luôn hiện diện trong mọi chỗ,
vẫn đồng hành và nâng đỡ hộ phù,
Xin Chúa thương ở cùng con trọn vẹn,
dẫu đời con vẫn có những hư hèn,
để từ đây con dứt bỏ mọi bon chen,
sống cho Chúa như lời xưa ước hẹn.
Lm. Thái Nguyên
====================
