Thứ bảy, 26/09/2026

Suy niệm Lời Chúa: Chúa Nhật II Phục Sinh (Ga 20,19-31)

Cập nhật lúc 15:00 11/04/2026
 

Tin mừng: Ga 20,19-31
Tám ngày sau, Đức Giê-su đến.
 
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.
19 Vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do-thái. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em !” 20 Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. 21 Người lại nói với các ông: “Bình an cho anh em ! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em.” 22 Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. 23 Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha ; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.”
24 Một người trong Nhóm Mười Hai, tên là Tô-ma, cũng gọi là Đi-đy-mô, không ở với các ông khi Đức Giê-su đến. 25 Các môn đệ khác nói với ông: “Chúng tôi đã được thấy Chúa !” Ông Tô-ma đáp: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.” 26 Tám ngày sau, các môn đệ Đức Giê-su lại có mặt trong nhà, có cả ông Tô-ma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em.” 27 Rồi Người bảo ông Tô-ma: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” 28 Ông Tô-ma thưa Người: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con !” 29 Đức Giê-su bảo: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin !”
30 Đức Giê-su đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này. 31 Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa, và để nhờ tin mà được sự sống nhờ danh Người.
=================
 
SUY NIỆM: PHÚC CHO AI KHÔNG THẤY MÀ TIN
Ngày hôm nay, trong một thế giới mà người ta cố gắng xây dựng chủ thuyết vô thần, loại trừ Thượng Đế ra khỏi đời sống, nhiều người cứ khăng khăng rằng các sự vật, hiện tượng nhìn thấy, phải sờ thấy mời là có, mới là tồn tại. Liệu có phải như thế không? Có phải cứ nhìn thấy, cú đụng chạm được mới là hiện hữu không? Chắc chắn không phải thế, Đức tin Công Giáo không bao bao giờ là viển vông. Sự kiện được loan báo đầu tiên của các tín hữu sơ khai là sự Phục Sinh của Đức Giê-su. Dù sự kiện ấy là khó tin nhưng chính những người cố chấp nhất, cứng lòng nhất cũng phải phủ phục kính tin. Bài Tin Mừng hôm nay sẽ cho thấy điều đó.
            Khi Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ vào chiều ngày Phục Sinh thì Tôma không ở đó. Vậy, khi các môn đệ khác nói rằng: chúng tôi đã thấy Chúa. Tôma không tin. Có lẽ khi ở bên ngoài, ông đã nghe được tin đồn của các thượng tế phao lên rằng: các môn đệ của Chúa Giêsu đã lấy trộm xác Người và giấu đi rồi loan tin là Chúa Giêsu đã sống lại. Khi trở lại với các anh em mình, lại được nghe các ông nói như vậy, Tôma hoang mang, nghi ngờ. Ông cần phải xác thực việc này. "Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin."(Ga 20,25). Chúng ta cứ nói Tôma là cứng lòng. Nhưng nếu ở hoàn cảnh của ngài ta cũng khó tránh hành động như vậy. Chúa Giêsu đã không giận, trách móc Tôma, Ngài đã cho ông gặp để ông tin.
            Khi được gặp Chúa Giêsu, Tôma không hề đợi để sờ vào dấu đinh, hay dấu lưỡi đòng ở cạnh sườn mà ông lập tức tuyên xưng Đức Giêsu là Thiên Chúa. Ta có thể hình dung khung cảnh lúc ấy, Tôma sẽ quỳ rạp xuống mà thốt lên “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” (Ga 20,28). Rõ ràng trước đó Tôma khăng khăng không chịu tin, giờ thì ông phủ phục tin thờ Chúa. Đó chính là lời chứng xác thực về sự phục sinh của Đức Giêsu. Thật thế, sự chậm tin của Tôma cho thấy việc Chúa Giêsu phục sinh không dễ dàng được đón nhận. Cho nên lời xác tín sau đó càng là bằng chứng xác thực về Tin Mừng Phục Sinh. Như thế, ta phải cảm ơn thánh Tôma mới phải, vì chính ngài đã trở thành bằng chứng vững chắc cho đức tin của chúng ta.
Quả thật, chúng ta không sống ở thời đó để được gặp gỡ Đức Kitô Phục Sinh. Đức tin của chúng ta là đức tin được các thánh tông đồ truyền lại. Cho nên Chúa Giêsu nói: Phúc cho ai không thấy mà tin. Dù là gián tiếp, là được truyền lại, nhưng đức tin ấy, chính các tông đồ đã sống, đã trả bằng tất cả con người và mạng sống của mình. Điều ấy được chứng thực bằng một đời sống lạ lùng khác người của các tín hữu đầu tiên như những gì chúng ta nghe trong Bài đọc 1: “Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, để mọi sự làm của chung. Họ đem bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người tùy theo nhu cầu” (Cv 2, 44).
Trải qua bao thế hệ, bao lớp người bằng nhiều cách thế khác nhau đã không ngừng nghỉ làm chứng cho Tin Mừng Phục Sinh: Người sống đời tu, người sống đời thường, người đổ máu mình ra. Không thấy mà tin, không phải là không thấy gì, nhưng là thấy cả chuỗi bằng chứng lịch sử suốt 2000 năm qua. Đó không chỉ là bằng chứng cho ta tin, nhưng còn là lời mời gọi ta tiếp tục loan truyền và minh chứng đức tin ấy cho những người khác, cho thế hệ tương lai.
__Misericordiatus__
 
=================
ĐỨC GIÊSU HIỆN ĐẾN
(CHÚA NHẬT TUẦN 2 PHỤC SINH NĂM A)
 
Qua Lời Tổng Nguyện của Chúa Nhật Tuần 2 Phục Sinh Năm A này, các nhà phụng vụ muốn chúng ta ý thức rằng: Hằng năm Chúa dùng ngọn lửa phục sinh, mà khơi lại niềm tin trong lòng dân thánh, cúi xin Chúa gia tăng ân sủng, để chúng ta hiểu rằng: chính Chúa Kitô đã thanh tẩy chúng ta bằng Bí Tích Thánh Tẩy, đã tái sinh chúng ta bằng Thánh Thần và cứu chuộc chúng ta bằng Máu Thánh.
 
Được tái sinh bằng Thánh Thần và được cứu chuộc bằng Máu Thánh, ta hãy hướng về những gì thuộc thượng giới, như trong bài đọc một Kinh Sách, trích thư của thánh Phaolô tông đồ gửi tín hữu Côlôxê: Sự sống mới trong Chúa Kitô, được thanh tẩy rồi, sự sống mới của người tín hữu tiềm tàng với Đức Kitô nơi Thiên Chúa, nên từ nay, thái độ người Kitô hữu đối với chính mình cũng như với cộng đoàn anh em phải thay đổi tận gốc rễ… Anh em đã được trỗi dậy cùng với Đức Kitô, nên anh em hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa. Anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới.  Thật vậy, anh em đã chết, và sự sống mới của anh em hiện đang tiềm tàng với Đức Kitô nơi Thiên Chúa.
 
Được tái sinh bằng Thánh Thần và được cứu chuộc bằng Máu Thánh, ta hãy mặc lấy Đức Kitô, như trong bài đọc hai Kinh Sách, trích Bài Giảng của thánh Âutinh: Thụ tạo mới trong Đức Kitô… Anh em đã chết, và sự sống mới của anh em hiện đang tiềm tàng với Đức Kitô nơi Thiên Chúa. Khi Đức Kitô, nguồn sống của chúng ta xuất hiện, anh em sẽ được xuất hiện với Người, và cùng Người hưởng phúc vinh quang. Anh em hãy coi mình như đã chết đối với tội lỗi, nhưng nay lại sống cho Thiên Chúa vì được kết hợp với Đức Kitô Giêsu.
 
Được tái sinh bằng Thánh Thần và được cứu chuộc bằng Máu Thánh, ta hãy kiên nhẫn chịu thử thách nhằm tinh luyện đức tin, như trong bài đọc một Thánh Lễ, trích sách Công Vụ Tông Đồ: Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung. Trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 117: Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương. Ai kính sợ Chúa hãy nói lên rằng: muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương. Trong bài đọc hai Thánh Lễ, trích thư thứ nhất của thánh Phêrô: Thiên Chúa cho chúng ta được tái sinh để nhận lãnh niềm hy vọng sống động, nhờ Đức Giêsu Kitô đã từ cõi chết sống lại.
 
Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Chúa nói: Này anh Tôma, vì đã thấy Thầy nên anh mới tin. Phúc thay những người không thấy mà tin. Trong bài Tin Mừng, thánh Gioan tường thuật: Tám ngày sau, Đức Giêsu đến. Như những trẻ sơ sinh, ta hãy khao khát sữa thiêng liêng tinh khiết, nhờ đó, ta sẽ lớn lên để hưởng ơn cứu độ; hãy đồng tâm nhất trí với nhau, hãy kiên vững: Chúng xô đẩy ta, xô cho ngã, nhưng Chúa đã phù trợ thân này; ta sẽ được hân hoan vui mừng, mặc dầu, còn phải ưu phiền ít lâu giữa trăm chiều thử thách. Những thử thách đó nhằm tinh luyện đức tin của ta là thứ quý hơn vàng gấp bội. Chúng ta hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ, đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới; chúng ta đã chết, và sự sống mới của chúng ta hiện đang tiềm tàng với Đức Kitô nơi Thiên Chúa. Tám ngày sau, Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: Bình an cho anh em. Hiện nay ta tiến bước nhờ lòng tin, nhưng, Đức Kitô là nguồn bình an của ta. Người đã dành biết bao ngọt ngào êm ái cho những kẻ kính sợ Người. Sự ngọt ngào êm ái đó, Người đã ban phát cho ta là những kẻ trông cậy nơi Người, và cho ta được an hưởng trọn vẹn, khi ta thật sự lãnh nhận cái, mà hiện nay, ta mới lãnh nhận trong hy vọng. Ước gì Chúa gia tăng ân sủng, để chúng ta hiểu rằng: chính Chúa Kitô đã thanh tẩy ta bằng Bí Tích Thánh Tẩy, đã tái sinh ta bằng Thánh Thần và cứu chuộc ta bằng Máu Thánh. Ước gì được như thế!

Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB

==================

SUỐI NGUỒN XÓT THƯƠNG
 
Anh chị em rất thân mến, với lòng biết ơn cảm tạ sâu sắc, chúng ta hãy cùng nhau tán tụng danh Chúa vì Ngài đã thương trao ban chính Con Một yêu dấu của Người cho chúng ta, hầu giải thoát nhân loại khỏi bóng đêm tử thần và đem nguồn ánh sáng vinh quang vĩnh cửu cho mọi người qua biến cố Tử Nạn và Phục Sinh của Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta.
 
Trong tâm tình hân hoan, hôm nay Giáo Hội cử hành thánh lễ Chúa Nhật thứ hai Phục Sinh cũng được gọi là Chúa Nhật về Lòng Thương Xót của Thiên Chúa mà chính Chân Phước Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II đã công bố trong bài giảng của Ngài vào ngày 30 tháng 4 năm 2000 nhân dịp tôn phong hiển thánh cho nữ tu Faustina Maria Kowalska như sau: ‘Vậy, đây là một việc quan trọng để chúng ta công nhận trọn vẹn thông điệp đến với chúng ta từ nơi Thiên Chúa trong ngày Chúa Nhật thứ hai Phục Sinh này, mà từ nay toàn thể Giáo Hội sẽ gọi là Chúa Nhật Thương Xót’. Lòng thương xót của Thiên Chúa dạt dào, tuôn trào qua muôn thế hệ, từ trước khi vạn vật thành hình và cho đến thời sau hết. Và lòng thương xót này được diễn tả qua các bài đọc ngày hôm nay. Vì thương xót nhân loại yếu hèn, đam mê, đắm chìm trong tội lỗi, Thiên Chúa đã không ngần ngại ban chính Con Một Ngài, Người đã yêu thương thế gian đến nỗi không tiếc gì với chúng ta, kể cả sự sống thần tính của mình. Ngài đã ban ân sủng dồi dào cho chúng ta, để rồi chúng ta biết tin nhận Ngài chính là nguồn an vui và cùng đích của đời sống chúng ta. Và đức tin này được tỏ lộ một cách huyền nhiệm qua chứng từ Tô-ma. Vậy, xin mời anh chị em cùng bước vào hành trình tìm hiểu và học hỏi để sống đức tin ấy trong mọi hoàn cảnh cuộc đời của chúng ta, để trở nên chứng tá kiên vững cho Đức Ki-tô.
 
Trước hết, chúng ta hãy đặt mình vào trong khung cảnh sau khi Chúa Giê-su chịu Tử nạn, các thánh Tông Đồ hoang mang, lo sợ, luôn khép mình trong nhà, các cửa đều đóng kín; bỗng nhiên Chúa Giê-su xuất hiện giữa các ông và nói: “Bình an cho các con!” và rồi Ngài cho ông Tô-ma xem các dấu đinh nơi chân tay và cạnh sườn Người. Khi được thấy tận mắt và được sờ vào các vết đinh với chính đôi tay của mình, Tô-ma sụp lạy và tuyên xưng: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con”” (Ga 20, 28). Một lời tuyên xưng đức tin đầy xác tín, vượt trên sự nghi ngờ, yếu đuối, nhút nhát và yếu hèn mà Tô-ma nói riêng và các Tông đồ nói chung đã trải qua. Thưa anh chị em, đức tin là ơn sủng cao quý mà Thiên Chúa ban tặng cho chúng ta, nhưng thử hỏi chúng ta đã biết đón nhận với cả lòng mến và trung thành sống chứng tá cho Chúa qua cuộc sống thường ngày chưa? Để rồi chúng ta ngày càng trưởng thành trong đời sống đức tin hay không? Nếu chúng ta không đọc kỹ đoạn Phúc Âm này (Ga 20, 19-29), chúng ta dễ dàng quy kết Tô-ma là người kém lòng tin. Ngược lại, Tô-ma chính là một gương sống đức tin mạnh mẽ. Đức tin của ông không dựa trên những lời các Tông đồ kể lại, không dựa trên những lời bình phẩm, lời đồn đại, nhưng đức tin của ông chính là một đức tin nhân vị, một đức tin sống động qua cuộc gặp gỡ riêng tư với Chúa Ki-tô Phục Sinh. Và nhờ cuộc hội ngộ đầy tính biến cố này, Tô-ma đã can đảm, ra khỏi con người nhút nhát, sợ sệt của mình mà thốt lên lời tuyên tín “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con”. Nói cách khác, đối với Tô-ma, ngoài Chúa Ki-tô Phục Sinh ra, không một ai làm chủ con người ông, không một ai có thể lay chuyển đức tin mà ông đặt trọn vẹn vào một vị Thiên Chúa đã mặc lấy xác phàm con người, đã chịu chết và sống lại, đem tình thương, lòng thương xót của Thiên Chúa Cha và ơn cứu độ đến cho chúng ta là những người tội lỗi. Dù có phải chịu cảnh tù đày, bắt bớ, gươm giáo, gian truân, đói khát, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, nhưng chẳng có điều gì, chẳng có ai có thể tách Tô-ma ra khỏi chính Đức Ki-tô Phục Sinh, Đấng mà Tô-ma hoàn toàn tín thác. Anh chị rất yêu mến, đức tin của Tô-ma là một bằng chứng hùng hồn, là một tấm gương sống đời sống đức tin cho chúng ta, nhất là trong thời đại hiện nay. Một thế giới dường như không có chỗ cho Thiên Chúa, Đấng tác thành và làm chủ muôn loài. Một xã hội chỉ đặt niềm tin vào những gì chóng qua, những phương pháp kỹ thuật tối tân, những trào lưu cấp tiến được trang bị bởi nền khoa học hiện đại, mà quên đi một điều thiết yếu và căn bản nhất, đó là: biết đặt lòng tin tưởng nơi anh chị em mình, và tín thác vào Thiên Chúa, Đấng có quyền tối thượng trên sự sống và sự chết.
 
Hơn nữa, đức tin này không phải chỉ giữ khư khư riêng cho mình, mà trái lại phải được chia san qua đời sống yêu thương tha nhân, hiệp nhất với nhau, sống chan hòa, tha thứ cho nhau, đồng tâm nhất trí với nhau như Giáo hội Tiên khởi đã trải nghiệm mà chúng ta được nghe trong bài đọc một, trích trong sách Công Vụ Tông Đồ (x. Cv 4, 32-35). Nói như thánh Gia-cô-bê “đức tin không có hành động thì quả là đức tin chết” (Gc 2, 17) Sống đức tin là hãy để Chúa Ki-tô Phục Sinh thúc bách chúng ta làm việc cụ thể, hãy để Thần Khí Người đánh động tâm hồn và làm chủ con người ta, để rồi chúng ta trở nên can đảm sống yêu mến Thiên Chúa và yêu thương tha nhân. Vì khi chúng ta yêu mến Chúa thì chúng ta cũng tuân giữ giới răn của Ngài (x. 1Ga 5, 3), và thực hành những gì chúng ta đã cam kết với Người khi được lãnh nhận bí tích Thanh Tẩy. Nhìn vào thực tế cuộc sống gia đình hiện nay, cũng như những chuyển biến trong xã hội mà ta đang sống tại xứ sở Phù Tang này, chúng ta cũng có nhiều nỗi ưu tư, hoang mang, lo sợ trước sức ảnh hưởng khôn lường của một thế giới tiên tiến, phát triển khoa học vượt bậc, cuộc sống tất bật, lo toan vật chất cũng như những thao thức về đời sống đạo đức trong các gia đình. Nhiều nỗi phiền muộn, thách thức đi tìm ý nghĩa của đời sống tận hiến trong một bối cảnh xã hội hoàn toàn khác, và có thể nói xa lạ đối với chúng ta. Đứng trước những thách đố ấy, có thể nói, không một ai trong chúng ta chưa một lần trải qua những giây phút vấp ngã hay cảm tưởng chùn chân tiến bước trên hành trình sống đức tin, tình bác ái và niềm cậy trông vào lòng lân tuất vô bờ của Thiên Chúa! Vì vậy, chúng ta cùng nhau học theo gương thánh Tô-ma, biết can đảm ra khỏi tính tự ti, nỗi sợ hãi của mình mà biết đặt hết niềm tin nơi Thiên Chúa, để chỉ một mình Ngài làm chủ tâm hồn ta. Và từ đó, chúng ta sống chứng tá cho Chúa Ki-tô Phục Sinh qua cử chỉ biết cảm thương, cảm thông với hết mọi người, qua lời nói động viên chân thành, khuyến khích nhau ‘nhân rộng những ơn lành mà Chúa đã ban cho ta’, hãy đẩy xa những gì tách lìa chúng ta khỏi Đức Ki-tô và chia rẽ chúng ta với nhau bằng đời sống cầu nguyện, và lòng vị tha.
 
Sau cùng, con xin anh chị em dành một phút ngắn ngủi thinh lặng trước Chúa, không phải để xin điều này, hay điều kia, nhưng để nói lên lời cảm tạ Ngài. Và trong tâm tình tạ ơn, chúng ta cùng cầu nguyện: Lạy Chúa Ki-tô Phục Sinh, xin gia tăng đức tin, canh tân đức ái, và nuôi dưỡng đức cậy cho chúng ta, để chúng con hết lòng tin tưởng và tín thác cuộc sống này cho Chúa như thánh Tô-ma Tông Đồ đã cam đảm thốt lên lời tuyên xưng vào Chúa Giê-su Phục Sinh “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con”. Nguyện xin Chúa cũng chúc lành cho những nỗ lực của mỗi người anh chị em chúng con qua đời sống chứng tá cho Chúa và việc bác ái trong mọi hoàn cảnh cuộc đời. Amen!

 

Lm. Xuân Hy Vọng

=================
 
LẠY THIÊN CHÚA CỦA CON!     
             

Sau cái chết như “một tử tội” của Thầy Giêsu, các môn đệ vô cùng khiếp sợ. Ngay cả sau khi Thầy đã sống lại, các ông vẫn chưa hoàn hồn vì nỗi sợ người Do Thái. Vào buổi chiều Chúa nhật, phòng ở của các ông còn đang đóng kín các cửa, bỗng Chúa hiện đến đứng ngay giữa và trấn an: “Bình an cho anh em!” (Ga 20,19b). Vì sợ hãi làm cho tâm hồn các ông bị khép kín, sống co cụm, cách biệt các mối tương quan, không gặp gỡ giao tiếp với ai. Khi có Chúa ở giữa với lời ban bình an, các ông như được cởi bỏ mối lo sợ đang ngập tràn. Để họ an tâm xác nhận, Người cho các ông xem chân tay và cạnh sườn rồi thổi hơi (ban Thánh Thần) cho các ông. Người truyền sai đi và ban quyền tha tội cho các ông. Có sự hiện diện với ơn bình an của Chúa Phục Sinh, các ông như được mở tung cõi lòng, như tia nắng mới, làn gió mát ùa vào khiến họ tự tin vững vàng để làm chứng cho Thầy mà không sợ hãi. Sự bình an của Chúa là ơn đặc biệt mà “thế gian chẳng thể ban được”. Sự bình an luôn là niềm khát vọng ngàn đời của cả nhân loại.
Lần trước Chúa hiện đến với các môn đệ thì ông Tôma vắng mặt. Các môn đệ khác nói lại nhưng ông không tin. Có lẽ nhiều người hôm nay chê trách Tôma quá cứng lòng. Nhưng thật ra, Chúa Giêsu đã chết rồi “tự sống lại” là chuyện chưa từng xảy ra trong lịch sử, ông lại không nhìn thấy nên thật khó để tin. Ông đại diện cho những người không sống theo dư luận, không hùa theo đám đông khi chưa nhìn rõ sự việc gì hệ trọng, mà phải là mắt thấy, tai nghe và tay rờ. Tin Mừng hôm nay là chuyện tám ngày sau, hôm ấy ông Tôma cùng ở đó và đã nhìn rõ Thầy mình. Chắc chắn ông đã tin, nhưng biết lòng người môn đệ này, Chúa còn lấy tình thân thương mà “nhắc nhủ” riêng ông: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” (Ga 20, 27). Lúc này ông vừa tin, vừa yêu, vừa kính sợ và chỉ còn biết kêu lên: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” Tình yêu và sự bình an của Chúa Phục Sinh đã tràn ngập tâm hồn ông, khiến ông cảm nhận thật rõ lòng thương xót của Chúa.
Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh! Hôm nay là Chúa nhật kính Lòng Thương Xót Chúa, vì tình yêu và lòng xót thương, Chúa đã chịu chết, chịu lưỡi đòng đâm thấu Trái Tim, để từ đây Máu và Nước đã tuôn trào như suối nguồn thương xót chúng con. Như thánh Tôma Tông đồ, xin Chúa cho chúng con luôn cảm nhận, tin yêu và tín thác trọn cuộc đời mình trong Trái Tim yêu thương của Chúa, để đời chúng con luôn sống trong sự bình an của Chúa, lạy Thiên Chúa của con! Amen.
                                                                Én Nhỏ
==================
THẾ GIỚI ĐANG RẤT CẦN BÌNH AN CỦA ĐỨC KITÔ PHỤC SINH

Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy một hình ảnh rất thực: các môn đệ tụ họp trong căn phòng đóng kín “vì sợ”. Nỗi sợ ấy không chỉ là sợ bị bách hại, nhưng còn là sợ thất bại, sợ mất niềm tin, sợ chết. Đó cũng chính là hình ảnh của nhân loại hôm nay. Chúng ta tự hỏi: Các môn đệ Chúa Giê-su đang cần gì? Thế giới đang cần gì? Nước Việt nam cần gì? Bản thân chúng ta cần gì? Thưa: Bình an!

Thế giới đang chứng kiến nhiều cuộc chiến tranh, xung đột và chia rẽ. Con người sống trong lo âu, sợ hãi và dựng lên những “cánh cửa đóng kín” trong tâm hồn. Người ta sợ nhau, đối đầu nhau, và dần đánh mất khả năng tin tưởng.

“Bình an cho các con.” (Ga 20, 21).

Là lời của Chúa Giê-su Ki-tô Phục Sinh hiện đến nói với các môn đệ. Đây không chỉ là một lời chào, mà là một hồng ân. Bình an của Chúa không phải là sự yên ổn bên ngoài, nhưng là sự hòa giải sâu xa trong tâm hồn con người. Người cho các môn đệ xem tay và cạnh sườn, những vết thương của tình yêu, để cho thấy rằng bình an được xây dựng trên sự hy sinh và tha thứ.

Chúa còn lặp lại: “Bình an cho các con. Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con.” (Ga 20, 22.  Và Người trao quyền tha tội:“Các con tha tội ai, thì tội người ấy được tha.” (Ga 20, 23.  Như vậy, bình an gắn liền với tha thứ. Không có tha thứ thì không có hòa bình. Một thế giới còn nuôi dưỡng hận thù thì không thể có bình an đích thực. Lời trên trở thành một lời kêu gọi khẩn thiết trong một thế giới đang chiến tranh. Nhân loại chỉ có thể có hòa bình khi đón nhận bình an từ Thiên Chúa.

Lòng Thương Xót, nguồn mạch của hòa bình

Bài đọc sách Công vụ Tông đồ cho chúng ta thấy hoa trái của bình an Phục Sinh: “Tất cả mọi kẻ tin đều sống hòa hợp với nhau và để mọi sự làm của chung.”(Cv 2, 45)

Họ chuyên cần nghe lời các Tông đồ, hiệp thông, bẻ bánh và cầu nguyện. Họ chia sẻ của cải cho nhau “tùy nhu cầu từng người”. Đây là hình ảnh của một xã hội được biến đổi bởi lòng thương xót, nơi không còn ích kỷ, nhưng đầy tình huynh đệ.

Điều này cho thấy: khi con người đón nhận bình an của Chúa, họ cũng thay đổi cách sống. Từ khép kín trở nên mở ra, từ sợ hãi trở nên hiệp nhất, từ ích kỷ trở nên quảng đại.

Giảng trong Thánh lễ Chúa Nhật ngày 30/4/2000, Thánh Gio-an Phao-lô II đã khẳng định: “Nhân loại sẽ không tìm thấy hòa bình nếu không quay về với lòng thương xót của Thiên Chúa.”Chính Chúa Giê-su đã nói với thánh nữ: “Nhân loại sẽ không tìm thấy bình an cho đến khi quay về với Lòng Thương Xót của Ta.” Đây là một lời cảnh tỉnh cho thế giới hôm nay. Chiến tranh không chỉ bắt đầu từ vũ khí, nhưng từ trái tim con người thiếu yêu thương và tha thứ. Nếu không chữa lành trái tim, thì hòa bình sẽ chỉ là tạm bợ.

Đức cố Giáo Hoàng Phan-xi-cô lúc sinh thời cũng nhấn mạnh: “Lòng thương xót là tên gọi thứ hai của Thiên Chúa.” Và ngài kêu gọi Giáo Hội trở thành “nhà của lòng thương xót”, nơi mọi người được đón nhận và chữa lành.

Chiến tranh xảy ra vì con người không còn “sống hòa hợp”, nhưng đặt lợi ích cá nhân, dân tộc hay quyền lực lên trên tất cả. Thay vì “làm của chung”, con người lại tranh giành, chiếm đoạt và loại trừ nhau. Chính vì thế, thế giới hôm nay rất cần trở lại với tinh thần của cộng đoàn tiên khởi: hiệp nhất, chia sẻ và yêu thương.

Sống bình an và lòng thương xót giữa một thế giới chiến tranh

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay không chỉ để suy niệm, nhưng để sống. Trong một thế giới đầy xung đột, mỗi Ki-tô hữu được mời gọi trở thành tác nhân của hòa bình.

Trước hết, hãy bắt đầu từ chính tâm hồn mình. Nếu lòng chúng ta còn đầy giận dữ, oán hận, thì chúng ta cũng đang “đóng kín cửa”. Hãy để Chúa bước vào và nói với chúng ta: “Bình an cho con.” Khi chúng ta đón nhận bình an của Chúa, chúng ta mới có thể trao ban bình an cho người khác.

Thứ đến, hãy sống tinh thần tha thứ. Tha thứ không dễ, nhưng là con đường duy nhất để chấm dứt hận thù. Một lời tha thứ trong gia đình, một sự cảm thông trong công việc, những điều nhỏ bé ấy có thể ngăn chặn những “cuộc chiến” lớn hơn.

Ngoài ra, chúng ta được mời gọi sống hiệp thông và chia sẻ như cộng đoàn tiên khởi. Trong một thế giới đầy bất công và chênh lệch, người Ki-tô hữu phải trở thành dấu chỉ của tình liên đới. Khi chúng ta quan tâm đến người khác, là góp phần xây dựng hòa bình.

Cuối cùng, hãy noi gương Tô-ma. Từ một người hoài nghi, ông đã tuyên xưng: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!”(Ga 20,28) Đó là hành trình đức tin của mỗi chúng ta: từ sợ hãi đến bình an, từ nghi ngờ đến tín thác. Phải khẳng định rằng, nhân loại hôm nay, đặc biệt nơi sinh ra Thái Tử Hòa Bình đang rất cần bình an, không phải thứ bình an mong manh của thế gian, nhưng là bình an của Chúa Giê-su Ki-tô Phục Sinh.

Ước mong sao, mỗi người chúng ta trở thành chứng nhân của lòng thương xót, mang bình an của Chúa đến cho gia đình, xã hội và thế giới. Để chính chúng ta cũng trở thành những người kiến tạo hòa bình trong một thế giới đang rất cần hòa bình an. Amen.

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

==================

TỪ BÌNH AN ĐẾN LÒNG THƯƠNG XÓT

Chúa Nhật II PS: Chúa Nhật Lòng Thương Xót – Ga 20, 19-31
Suy niệm
Tin Mừng hôm nay bắt đầu bằng một lời: “Bình an cho anh em” (c.19). Nhưng đó không phải là điểm kết, mà là điểm khởi đầu.
Bình an Đức Giêsu trao không dừng lại nơi nội tâm, nhưng mở ra một con đường: từ bình an được nhận lãnh đến lòng thương xót được trao ban. Nếu Tin Mừng cho thấy Chúa bước vào căn phòng đóng kín, thì bài đọc I (Cv 2,42-47) cho thấy kết quả: một cộng đoàn hiệp thông, chia sẻ và đầy sức sống.
1. Bình an của Đức Giêsu phục sinh
“Các cửa đều đóng kín… Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông” (c.19). Bình an không đến trong hoàn cảnh lý tưởng, nhưng trong tình trạng mà các tông đồ đang sợ hãi và trốn tránh. Nhưng Đức Giêsu không đợi họ vượt qua rồi mới đến. Người đi thẳng vào chính nơi họ yếu nhất.
“Bình an” (shalom) không chỉ là yên ổn, nhưng là sự trọn vẹn được tái lập: con người được nối lại với Thiên Chúa. Vì thế, bình an không phải là né tránh thực tại, nhưng là sức mạnh để bước vào thực tại với một trái tim đã được chữa lành.
2. Những dấu đinh – con đường dẫn đến đức tin
“Người cho các ông xem tay và cạnh sườn” (c.20). Đức Giêsu không che giấu vết thương, nhưng lấy chính vết thương làm bằng chứng.
Bình an Kitô giáo không được xây trên việc phủ nhận đau khổ, nhưng trên một tình yêu đã đi xuyên qua đau khổ. Các dấu đinh không còn là thất bại, nhưng trở thành dấu chỉ của tình yêu đến cùng.
Không phải vinh quang xóa đi thập giá, nhưng chính thập giá trở thành vinh quang. Vì thế, ai muốn tìm một con đường không có thập giá, người đó sẽ không gặp được Đức Kitô Phục Sinh.
3. Khi đức tin chạm đến lòng thương xót
Tôma không tin vào lời chứng của các anh em. Ông tuyên bố thẳng thừng: “Nếu tôi không thấy… tôi sẽ không tin” (c.25).
Đức Giêsu lại hạ mình một lần nữa. Người hiện đến và nói: “Đặt ngón tay vào đây… đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin” (c.27).
Vừa thấy Chúa, Tôma đã thốt lên: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con” (c.28). Đức tin không sinh ra từ những điều ngoạn mục, nhưng từ một cuộc gặp gỡ với tình yêu chịu đóng đinh.
4. Từ bình an đến sứ mạng: trở thành lòng thương xót
“Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em” (c.21). Ngay sau khi trao bình an, Đức Giêsu sai các môn đệ đi. Bình an không phải để giữ lại, nhưng để trao ban. “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần… anh em tha tội cho ai…” (cc.22-23).
Lòng thương xót không còn là cảm xúc, nhưng trở thành một quyền năng và một sứ mạng. Người đã được tha thứ, sẽ trở thành người tha thứ. Người đã được thương xót, sẽ trở thành lòng thương xót.
Nếu bình an là ân ban đầu tiên, thì lòng thương xót là hoa trái tất yếu.
5. Cộng đoàn tiên khởi – hình hài của lòng thương xót
Điều xảy ra trong Tin Mừng không dừng lại ở căn phòng, nhưng được kéo dài trong đời sống Hội Thánh. Cộng đoàn tiên khởi đã đi trọn hành trình: từ bình an đến lòng thương xót. “Họ để mọi sự làm của chung… chia cho mỗi người tùy theo nhu cầu” (Cv 2,45).
Đây không phải là một lý tưởng xã hội, nhưng là hệ quả của một trái tim đã được biến đổi. Và vì thế: “Họ được toàn dân thương mến” (c.47). Lòng thương xót không cần chứng minh – tự nó có sức thu hút.
6. Đức tin hôm nay – “thấy” bằng đời sống
“Phúc thay những người không thấy mà tin” (c.29). Chúng ta không thấy Chúa như các tông đồ, nhưng được mời gọi “thấy” Người theo một cách khác. Thấy Người nơi Lời Chúa, nơi Thánh Thể, nơi tha nhân. Thấy Người nơi những cuộc đời dấn thân, hy sinh, phục vụ.
Đức tin hôm nay không thiếu lý lẽ, nhưng thiếu những chứng tích sống động. Con người hôm nay không cần những lời giải thích dài, nhưng cần được thấy tình yêu.
Kết
Tin Mừng hôm nay mở ra một hành trình rõ ràng: từ những cánh cửa đóng kín → đến bình an → đến sứ mạng → và cuối cùng là một cộng đoàn sống lòng thương xót.
Điều con người hôm nay chờ đợi không phải là những lời nói về Thiên Chúa, nhưng là những chứng tích của lòng thương xót. Nếu ta thực sự đã gặp Đấng Phục Sinh, thì đời ta sẽ không dừng lại nơi chính mình, nhưng trở nên lòng thương xót của Thiên Chúa giữa đời.
Cầu nguyện
Lạy Cha là Thên Chúa của chúng con!
Thương xót chính là hành động của Cha,
là tiêu chuẩn để biết ai con cái,
là sống với tất cả lòng nhân ái,
nhưng bao hàm công bằng và sự thật.

Thương xót không dung túng điều xấu xa,
Đó chính là hành động cao cả nhất,
là phẩm chất của đời sống con người,
là hành vi thờ phượng rất đẹp tươi,
vì điều Chúa muốn không phải là lễ vật,
mà trước tiên là sống với lòng nhân.

Đức Giê-su đã trở nên người thế,
để thể hiện lòng thương xót của Cha,
trên thập giá Ngài cũng đã thứ tha,
trước lòng dạ bạc ác của con người,
ngay cả ông Tô-ma cứng lòng tin,
Ngài cũng đã hạ mình cho xem thấy.

Chúa muốn con nên hoàn thiện như Cha,
không phải là không còn gì thiếu sót,
mà là sống nhân từ và tha thứ,
không xét đoán và càng không lên án,
luôn bao dung và đại lượng vô vàn,
vì thương xót là tình yêu vô giới hạn.

Xin cho con được đầy lòng thương xót,
dù nhiều khi rất đắng đót trong đời,
nhưng nhờ vậy phát sinh con người mới,
để tình Chúa sáng tỏa khắp muôn nơi,
là niềm vui ơn cứu độ cho đời. Amen.

Lm. Thái Nguyên

==================

CHẠM VÀO LÒNG THƯƠNG XÓT ĐỂ ĐƯỢC BIẾN ĐỔI (Ga 20,19-31)
“Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!”
 
Kính thưa cộng đoàn,
Sau khi Phục Sinh, Chúa Giê-su hiện ra với cá môn đệ, củng cố đức tin cho các ngài. Tuy nhiên, các môn đệ vẫn còn sợ hãi, chưa đủ can đảm làm chứng cho Tin Mừng Phục Sinh. Chúa Giê-su biết rõ sự nhát đảm nơi các môn đệ. Các ông sợ bị người Do-thái tìm giết. Chính vì thế, Chúa Giê-su tiếp tục hiện ra với các ông trong khi các cửa đều đóng kín. Chúa Giê-su đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em!” Người đến không phải để trách móc, mà trao ban bình an và củng cố đức tin cho các môn đệ. Người cho các ông xem chân tay và cạnh sườn. Đây là những dấu tích của tình yêu và lòng thương xót. Chính những vết thương ấy lại trở thành nguồn bình an và niềm tin. Các môn đệ được biến đổi từ sợ hãi thành niềm vui và thêm ơn can đảm. Chúa Giê-su không chỉ minh chứng Người đã Phục Sinh, mà còn trao ban quyền năng và sai các ông đem ơn tha thứ cho nhân loại “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.”
Tuy nhiên, trong lần hiện ra đó, ông Tô-ma vắng mặt. Ông chưa được thấy Chúa Giê-su Phục Sinh, chưa được thấy những vết thương của Người. Vì lý do đó, ông chưa tin vào sự Phục Sinh của Chúa Giê-su. Ông muốn được thấy những vết thương nơi chân tay và cạnh sườn của Chúa Giê-su. Chúa Giê-su đã không loại trừ ông Tô-ma dù ông cứng lòng tin như thế. Người đã hiện ra một lần nữa khi có mặt ông Tô-ma. Người mời gọi ông: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” Chúa Giê-su tỏ lòng thương xót với ông. Với lòng thương xót vô biên của Chúa, ông Tô-ma không cần chạm vào. Ông đã tin và tuyên xưng: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” Chúa Giê-su đã để ông Tô-ma chạm vào lòng thương xót của Người để biến đổi ông thành người can đảm tuyên xưng đức tin mạnh mẽ. Như vậy, Thiên Chúa không xa lánh sự yếu đuối và nghi ngờ của ta. Ngài đến với ta bằng lòng thương xót. Và chính lòng thương xót ấy biến đổi trái tim ta.
Thiên Chúa vẫn tỏ lòng thương xót với con người bằng nhiều cách khác nhau. Vì thế, mỗi người đừng sợ mang những vết thương của mình đến với Chúa. Bởi theo lời thánh Fau-ti-na: “Lòng thương xót của Chúa lớn hơn mọi tội lỗi của chúng ta.”, vì không có tội lỗi nào lớn hơn tình yêu của Thiên Chúa. Và chỉ có lòng thương xót mới biến chiến thắng tội lỗi, như lời thánh Gio-an Phao-lô II khẳng định: “Lòng thương xót là giới hạn cuối cùng của sự dữ.”. Mỗi người chúng ta được mời gọi siêng năng lãnh nhận Bí tích Hòa Giải để nhận lãnh lòng thương xót của Thiên Chúa. Chúng ta cũng cần tập sống lòng thương xót khi biết tha thứ cho người khác, không xét đoán và biết cảm thông.
Có một người phạm lỗi nặng và luôn sống trong mặc cảm. Anh nghĩ: “Tôi không xứng đáng để được tha thứ.”
Một ngày, anh quyết định đến tòa giải tội. Anh run sợ thú nhận tất cả. Sau khi nghe xong, linh mục chỉ nhẹ nhàng nói: “Chúa đã chờ con từ lâu.”
Anh bật khóc. Lần đầu tiên, anh cảm nhận được không phải là sự kết án, mà là lòng thương xót. Từ đó, cuộc đời anh thay đổi. Anh sống tốt hơn, yêu thương hơn.
Lạy Chúa, xin cho con biết chạm vào lòng thương xót của Chúa. Nhờ đó, con được biến đổi và được chữa lành. Xin cho con cũng biết tỏ lòng thương xót anh chị em con để làm sáng Danh Chúa. A-men

Jos. Nguyễn

====================

VẾT THƯƠNG – CÁNH CỬA

“Đặt ngón tay vào đây…; đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy!”.
“Qua các vết thương của Người, tôi chiêm ngắm lòng thương xót của Chúa!” - Bernard Clairvaux.
Kính thưa Anh Chị em,
Lời Chúa hôm nay không xoá đi vết thương, nhưng cho phép con người bước vào đó mà chiêm ngắm lòng thương xót của Ngài. Như vậy, ‘vết thương’ là ‘cánh cửa’.
Các môn đệ ở trong một không gian đóng kín - không chỉ cửa đóng, nhưng lòng cũng đóng - một trạng thái hiện sinh: sợ hãi, đứt gãy, thương tích sau thập giá. Nhưng chính ở đó, Đấng Phục Sinh đứng vào giữa; Ngài không xoá các dấu đinh, nhưng giữ lại như một chứng từ, nơi vết thương không còn là thất bại nhưng trở thành nơi mặc khải, nơi con người chạm tới lòng thương xót. Lời mời chạm vào cạnh sườn mở ra một chuyển động: chạm - tin; không phải để kiểm chứng, nhưng để bước vào. Con người hôm nay - vẫn sợ, vẫn nghi ngờ, vẫn còn những vết rạn chảy máu - không cần thoát khỏi vết thương của mình để có thể tin, nhưng được mời ở lại trong đó để tin, tangere ut credere.
Nếu ‘vết thương’ là ‘cánh cửa’, thì cộng đoàn không còn là tập hợp của những con người lành lặn, nhưng là “một thân thể” quy tụ quanh một ký ức chưa xoá. Hội Thánh không là một cộng đoàn lý tưởng, nhưng là hệ quả của một biến cố: nỗi sợ được biến đổi! Từ đóng kín, họ mở ra; từ giữ lấy, họ để mọi sự làm của chung; từ thập giá, họ bước vào hiệp thông - bài đọc một. Không loại bỏ quá khứ, nhưng đem quá khứ vào một tương quan mới. Như thế, Hội Thánh không chào đời từ sự toàn vẹn, nhưng từ những vết thương được chia sẻ - nơi chúng ta, vẫn còn sợ, vẫn còn khép lại - chỉ có thể bắt đầu hiệp thông khi dám mang theo những gì chưa lành của mình. “Hội Thánh gồm cả kẻ tốt lẫn kẻ xấu cho đến tận cùng!” - Augustinô.
Như thế, đức tin không dừng ở việc “thấy rồi tin”, nhưng mở ra một chiều kích khác: không thấy mà vẫn tin. Đây không phải là thiếu, nhưng là một chuyển dịch: từ thấy đến sống trong tương quan. Chính trong chuyển dịch ấy, một niềm vui giữa thử thách; vết thương không biến mất, nhưng đi vào chính đời sống người tin - bài đọc hai. Vì thế, đức tin không phải là thoát khỏi đổ vỡ, nhưng là ở lại trong đó; không thấy, nhưng vẫn yêu; không chạm, nhưng vẫn ở lại. “Trong đau khổ, con người được mời gọi thông phần vào chính đau khổ đã cứu chuộc mọi đau khổ!” - Gioan Phaolô II.
Anh Chị em,
Nơi Đức Kitô, vết thương không còn là dấu tích của cái chết, nhưng là nơi Ngài tự hiến chính mình; từ cạnh sườn bị đâm thâu, Ngài mở ra một tương quan mới, nơi con người không còn đứng ngoài để nhìn, nhưng được bước vào để sống. Vì thế, theo Chúa Kitô không phải để tránh vết thương; nhưng là để vết thương trở thành nơi tự hiến. “Không ai thoát khỏi thương tích; tất cả chúng ta đều bị thương. Câu hỏi không phải là làm sao che giấu vết thương của mình, nhưng là làm sao đặt chính thương tích ấy vào trong việc phục vụ người khác!” - Henri Nouwen.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, xin mở lòng con, để chính những thương tích của con không còn là nơi đóng kín, nhưng trở thành cánh cửa dẫn con đến với Chúa, đến với anh chị em con!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

==================

HÃY MỞ CỬA TÂM HỒN TRƯỚC LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA
(Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật II Phục Sinh – Lễ Kính Lòng Thương Xót, Năm A)

Buổi chiều ngày thứ nhất trong tuần, các môn đệ tụ họp trong một căn phòng và họ đóng kín cửa lại. Họ không đóng cửa vì xấu hổ hay dằn vặt nội tâm, nhưng vì họ sợ. Họ sợ người Do Thái truy lùng, sợ bị bắt bớ, sợ phải đi vào cùng con đường thập giá mà Thầy của họ đã đi. Nỗi sợ ấy khiến họ thu mình lại, khiến họ co rút đời sống vào một không gian nhỏ hẹp, nơi họ nghĩ rằng mình có thể an toàn.
Chính trong bối cảnh đó, Đức Giêsu phục sinh đã đến và đứng giữa các ông. Ngài không phá cửa, Ngài cũng không làm cho nỗi sợ biến mất bằng một phép lạ tức thời. Trái lại, Ngài cất tiếng nói: “Bình an cho anh em.” Lời nói ấy không chỉ là một lời chào, nhưng là một thực tại mà Ngài trao ban. Bình an mà Ngài ban không loại trừ nỗi sợ ngay lập tức, nhưng đặt các môn đệ vào một tương quan mới, nơi nỗi sợ không còn là tiếng nói quyết định.
Sau lời chào bình an, Đức Giêsu không dừng lại ở lời nói, nhưng Ngài cho các môn đệ xem tay và cạnh sườn của Ngài. Hành động này không chỉ nhằm chứng minh rằng Ngài đang sống, nhưng còn nhằm tỏ lộ căn tính của Ngài. Các vết thương trên thân thể Đức Giêsu không còn là dấu vết của thất bại, nhưng trở thành dấu chỉ của một tình yêu đã đi đến tận cùng. Chính nơi những vết thương ấy, các môn đệ nhận ra rằng Thiên Chúa không đứng xa con người, nhưng đã đi vào tận cùng đau khổ của con người.
Từ đó, chúng ta có thể hiểu rằng: điều Đức Giêsu muốn trao ban không chỉ là sự hiện diện của Ngài, nhưng là một mặc khải về Thiên Chúa. Thiên Chúa mà Ngài mặc khải không phải là một Đấng xa lạ, lạnh lùng hay khép kín, nhưng là một Thiên Chúa mang lấy vết thương vì yêu con người. Khi các môn đệ nhìn thấy các vết thương ấy, họ không chỉ nhìn bằng mắt, nhưng họ bắt đầu hiểu bằng chính đời sống của mình.
Tuy nhiên, câu chuyện không dừng lại ở đó, vì Tôma đã không có mặt khi Đức Giêsu hiện ra lần thứ nhất. Chính vì không có kinh nghiệm gặp gỡ này, ông đã đặt ra điều kiện để tin. Ông nói rằng ông cần phải thấy và phải chạm thì ông mới tin. Ở đây, chúng ta nhận ra rằng: khi con người không có kinh nghiệm về lòng thương xót, họ sẽ tìm cách nắm giữ đức tin bằng những điều có thể kiểm chứng.
Nhưng khi Đức Giêsu hiện ra lần thứ hai, Ngài không từ chối Tôma, mà Ngài đáp lại chính điều kiện mà ông đặt ra. Ngài nói: “Hãy đặt tay vào đây… đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” Tuy nhiên, điều quan trọng không nằm ở việc Tôma có chạm hay không, nhưng nằm ở sự thay đổi trong nội tâm của ông. Khi đứng trước một tình yêu không khép lại, không loại trừ, không lên án, Tôma đã buông bỏ nhu cầu kiểm chứng và ông tuyên xưng: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con.”
Từ kinh nghiệm của Tôma, chúng ta có thể đi xa hơn để hiểu về đời sống đức tin. Đức tin không phải là kết quả của việc nắm giữ bằng chứng, nhưng là kết quả của việc để mình được chạm đến bởi lòng thương xót. Khi con người chỉ tìm kiếm bằng chứng, họ vẫn còn đứng ở ngoài. Nhưng khi họ chấp nhận bước vào tương quan, họ bắt đầu sống đức tin.
Từ đó, chúng ta cũng có thể nhìn lại thực trạng của con người hôm nay. Nhiều người tin rằng Thiên Chúa hiện hữu, nhưng họ lại không dám tin rằng Thiên Chúa yêu họ. Họ sợ Thiên Chúa, họ nghĩ rằng Thiên Chúa xét đoán họ, họ cảm thấy mình không xứng đáng để đến gần Ngài. Chính nỗi sợ ấy khiến họ “đóng cửa” đời mình, giống như các môn đệ ngày xưa.
Tuy nhiên, cần phải nói rõ rằng: tội lỗi không phải là điều làm cho con người xa Thiên Chúa, nhưng chính nỗi sợ và sự khép kín mới làm điều đó. Giuđa đã rơi vào tuyệt vọng vì ông không tin rằng mình còn có thể được tha thứ. Ngược lại, người trộm lành đã được cứu vì ông dám tín thác vào lòng thương xót, ngay cả khi ông không còn gì để bám víu.
Cuối cùng, từ tất cả những điều đó, chúng ta được mời gọi nhìn lại chính mình. Khi đối diện với yếu đuối và tội lỗi, chúng ta thường có xu hướng khép lại, tự bảo vệ và tránh né. Nhưng chính trong những lúc ấy, Đức Giêsu vẫn đến, vẫn đứng giữa đời sống chúng ta, và vẫn nói: “Bình an cho anh em.”
Vì thế, điều quan trọng không phải là chúng ta có hoàn hảo hay không, nhưng là chúng ta có dám mở cửa lòng mình hay không. Khi chúng ta mở lòng, chúng ta sẽ nhận ra rằng: lòng thương xót của Thiên Chúa không đứng bên ngoài chờ đợi, nhưng đã đi vào, đã ở lại, và đang biến đổi chúng ta từ bên trong.

Jos. Vinc. Ngọc Biển

=================


 

Thông tin khác:
 

 

 
 
 
 
Bài Giảng của Đức Cha Đaminh Hoàng Minh Tiến Trong Thánh Lễ Bế Mạc Năm Thánh 2025
Liên kết website

 

 

 

Tiêu điểm
Giáo xứ Ro Lục: Vui tết Trung Thu cùng Chúa Giê-su
Giáo xứ Ro Lục: Vui tết Trung Thu cùng Chúa Giê-su
WGPHH - Trong bầu khí vui tươi của những ngày Tết Trung Thu, Giáo xứ Ro Lục đã tổ chức chương trình Tết Trung Thu cho các em thiếu nhi trong và ngoài giáo xứ vào buổi tối thứ năm ngày 24 tháng 09 năm 2026 tại khuôn viên nhà thờ giáo xứ Ro Lục – giáo phận Hưng Hóa với chủ đề: Vui tết Trung thu cùng Chúa Giêsu.
Website giaophanhunghoa.org được phát triển bởi đơn vị thiết kế web: MIP™ (www.mip.vn - mCMS).
log