Thứ tư, 04/03/2026

Chúa Nhật Tuần V - Mùa Thường Niên (Mt 5, 13-16)

Cập nhật lúc 20:00 07/02/2026

Tin Mừng: Mt 5, 13-16
Chính anh em là ánh sáng cho trần gian.
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
13 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng: “Chính anh em là muối cho đời. Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại ? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi.
14 “Chính anh em là ánh sáng cho trần gian. Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được. 15 Cũng chẳng có ai thắp đèn rồi lại để dưới cái thùng, nhưng đặt trên đế, và đèn soi chiếu cho mọi người trong nhà. 16 Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời.”
======================

SUY NIỆM: MUỐI VÀ ÁNH SÁNG

“Chính anh em là ánh sáng cho trần gian.”
Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su nói rất rõ ràng và dứt khoát: “Chính anh em là muối cho đời… Chính anh em là ánh sáng cho trần gian.”
Đó không phải là một lời khen, càng không phải là một đặc quyền, mà đó chính là một căn tính, đồng thời là một trách nhiệm mà người môn đệ không thể trốn tránh.
Muối không tồn tại cho chính nó. Muối sinh ra để tan đi, để hòa mình vào thức ăn, làm cho món ăn đậm đà hơn, giữ cho thực phẩm khỏi hư hỏng. Muối mà nhạt thì trở nên vô dụng. Cũng vậy, người Ki-tô hữu mà đánh mất căn tính Tin Mừng, sống thỏa hiệp, sống hời hợt, hay chỉ sống cho bản thân, thì không còn khả năng làm cho đời thêm “mặn”, thêm ý nghĩa.
Đôi khi, chúng ta vẫn giữ đạo rất đều: đi lễ, đọc kinh, sinh hoạt hội đoàn… nhưng lại thiếu sức “mặn” trong đời sống thường ngày. Lời nói không đem lại bình an, thái độ không xây dựng hiệp nhất, cách sống không phản chiếu lòng xót thương. Có thể chúng ta vẫn còn “muối”, nhưng là muối để trong hũ, không dám tan ra cho đời.
Rồi Đức Giê-su nói tiếp: “Chính anh em là ánh sáng cho trần gian.” Ánh sáng không cần phô trương để tỏa sáng; chỉ cần được thắp lên và đặt đúng chỗ. Một ngọn đèn nhỏ cũng đủ xua tan bóng tối trong căn phòng. Điều quan trọng không phải ánh sáng mạnh hay yếu, mà là có dám được thắp lên hay không.
Có những người vẫn giữ đức tin rất kín đáo, vì sợ bị đánh giá, sợ khác người, sợ thiệt thòi. Nhưng Đức Giê-su nói: “Không ai thắp đèn rồi lại để dưới cái thùng.” Tin Mừng không được giấu kín trong nhà thờ, mà phải được chiếu sáng giữa đời, nơi gia đình, nơi công việc, nơi những mối quan hệ trong cuộc sống hằng ngày.
Tuy nhiên, Chúa cũng nhấn mạnh một điều quan trọng: ánh sáng ấy không nhằm làm cho con người được ca tụng, nhưng “để họ thấy những việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha trên trời.” Người Ki-tô hữu không chiếu sáng để người khác nhìn mình, mà để người khác nhìn thấy Thiên Chúa qua cách mình sống.
Hôm nay, Lời Chúa mời gọi mỗi chúng ta tự hỏi:
– Tôi còn giữ được “độ mặn” của Tin Mừng trong đời sống không?
– Ánh sáng đức tin nơi tôi đang được đặt trên giá cao, hay đang bị che khuất bởi sợ hãi, ích kỷ và những chọn lựa dễ dãi?
Lạy Chúa, xin cho chúng con biết âm thầm làm muối, khiêm tốn làm ánh sáng, để giữa một thế giới còn nhiều tối tăm và mỏi mệt, đời sống chúng con trở thành một lời chứng nhỏ bé nhưng bền bỉ, dẫn người khác đến gần Chúa hơn. Amen.
Glacies
===================
CHÍNH ANH EM LÀ ÁNH SÁNG
(CHÚA NHẬT TUẦN 5 TN NĂM A)
 
Qua Lời Tổng Nguyện của Chúa Nhật Tuần 5 Thường Niên, Năm A hôm nay, các nhà phụng vụ muốn chúng ta ý thức rằng: chúng ta là con cái trong nhà, chỉ đứng vững khi dựa vào ơn Chúa, xin Chúa hằng che chở chúng ta.
 
Chỉ đứng vững khi dựa vào ơn Chúa, dựa vào ân sủng, như trong bài đọc một Kinh Sách, trích thư thư của thánh Phaolô tông đồ gửi tín hữu Galát: Tin Mừng do thánh Phaolô loan báo, một số Kitô hữu gốc Dothái đã đến Galát, sau khi thánh Phaolô đã rao giảng Tin Mừng ở đó. Họ rao giảng một Tin Mừng khác. Thánh Phaolô biết rằng Tin Mừng người rao giảng phát xuất từ Thiên Chúa, nên không ai có quyền thay đổi... Xin Thiên Chúa là Cha chúng ta, và xin Chúa Giêsu Kitô ban cho anh em ân sủng và bình an, Đức Giêsu Kitô đã tự hiến vì tội lỗi chúng ta. Nếu tôi còn muốn làm đẹp lòng người đời, thì tôi không phải là tôi tớ của Đức Kitô.
 
Chỉ đứng vững khi dựa vào ơn Chúa, dựa vào đức tin, như trong bài đọc hai Kinh Sách, trích Bài Diễn Giải của thánh Âutinh về thư thánh Phaolô gửi tín hữu Galát: Chúng ta hãy tìm hiểu ân huệ của Thiên Chúa… Lề Luật đã thành người quản giáo dẫn chúng ta tới Đức Kitô, để chúng ta được nên công chính nhờ đức tin. Nhưng khi đức tin đến, thì chúng ta không còn ở dưới quyền giám hộ nữa. Trước khi đức tin đến, chúng ta bị Lề Luật giam giữ, cho tới khi đức tin được mặc khải.
 
Chỉ đứng vững khi dựa vào ơn Chúa, dựa vào các việc bác ái được soi dẫn bằng thập giá Đức Kitô, như trong bài đọc một Thánh Lễ, trích sách ngôn sứ Isaia: Ánh sáng ngươi sẽ bừng lên như rạng đông. Trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 111: Giữa tối tăm bừng lên một ánh sáng chiếu rọi kẻ ngay lành: đó là người từ bi nhân hậu và công chính. Phúc thay người biết cảm thương và cho vay mượn, biết theo lẽ phải mà thu xếp công việc mình. Trong bài đọc hai Thánh Lễ, trích thư thứ nhất của thánh Phaolô tông đồ gửi tín hữu Côrintô: Tôi đã loan báo cho anh em mầu nhiệm Đức Kitô chịu đóng đinh vào thập giá.
 
Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Chúa nói: Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi, sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống. Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu nói: Chính anh em là ánh sáng cho trần gian. Ánh sáng đức tin hành động nhờ đức ái, ánh sáng của ta phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp ta làm, mà tôn vinh Cha trên trời, để, tất cả mọi người biết cúi mình thờ lạy, phủ phục trước tôn nhan Chúa, Đấng dựng nên ta, mà dâng lời cảm tạ Thiên Chúa, vì lòng Người từ nhân đã làm cho người trần bao kỳ công tuyệt diệu: Họng ráo khô, Chúa cho uống phỉ tình; bụng đói lả, Người cho ăn thoả thích. Vì thế, ta hãy chia cơm cho người đói, rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ; thấy ai mình trần thì cho áo che thân, bấy giờ, ánh sáng của ta sẽ bừng lên như rạng đông, ta không lo phải nghe tin dữ, hằng an tâm và tin cậy Chúa, luôn vững lòng không sợ hãi chi, khi đó, ta không muốn biết đến chuyện gì khác, ngoài, Đức Giêsu Kitô, mà là Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh vào thập giá, và đức tin của ta không dựa vào lẽ khôn ngoan người phàm, nhưng, dựa vào quyền năng Thiên Chúa. Không có Tin Mừng nào khác đâu, mà, chỉ có những kẻ phá rối, nếu có ai loan báo cho ta Tin Mừng khác với Tin Mừng chúng ta đã được các Tông Đồ loan báo, thì, Thiên Chúa sẽ loại trừ kẻ ấy. Thiên Chúa ban Lề Luật cho những người bất chính, nhằm tố giác tội lỗi của họ, chứ, không phải để xóa tội lỗi đó đi. Quả vậy, tội lỗi chẳng được xóa đi, nếu, không nhờ ơn đức tin, một đức tin hành động nhờ đức ái. Lề Luật đã thành người quản giáo dẫn chúng ta tới Đức Kitô, để ta được nên công chính nhờ đức tin. Chúng ta là con cái trong nhà, chỉ đứng vững khi dựa vào ơn Chúa, ước gì Chúa hằng che chở chúng ta. Ước gì được như thế!

Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB

====================

MUỐI VÀ ÁNH SÁNG

Trong Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu nói với các môn đệ:  “Chính anh em là muối cho đời. Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi. Chính anh em là ánh sáng cho trần gian”. Khi gọi các môn đệ là “muối và ánh sáng”, Người muốn họ trở thành chất xúc tác để chiếu sáng và ướp mặn trần gian. Sống giữa lòng nhân loại, họ có nhiệm vụ giữ trần gian cho khỏi hư thối vì sự phá hủy của tội lỗi. Họ phải như đèn chiếu sáng để người khác biết đâu là đường đi, đâu là nguy hiểm phải tránh. Sự hiện diện của các ông phải làm tăng thêm ý nghĩa và giá trị cho cuộc sống con người.
Cuộc sống của những người theo Chúa phải sáng lên niềm vui tươi hy vọng, để khi nhìn vào, người u sầu tìm được niềm vui an ủi, người thất vọng hồi phục lòng tin tưởng cậy trông. Nhưng nếu đời sống của chúng con chỉ “sáng” ở nhà thờ, trong buổi cầu nguyện thì cũng chưa phải là ánh sáng mà Chúa muốn. Nơi càng tối càng cần ánh sáng, đồ ăn cần để lâu càng cần ướp mặn. Từ chính những nơi này, ánh sáng và muối sẽ chứng tỏ giá trị đích thực của nó. Chúng con cần phải hiện diện, hòa đồng, gần gũi với mọi người, không phân biệt họ là ai. Nhưng tự sức chúng con không trở nên muối và ánh sáng được. Chỉ có Chúa mới là Muối và Ánh Sáng thật. Muối và Ánh Sáng ở đâu thì ướp mặn và tỏa sáng nơi đó.
Tôi sống mối tương quan với Đức Kitô ra sao? mặn nồng thắm thiết hay nhạt nhẽo? Chúa có là niềm vui hạnh phúc của đời tôi không hay còn nhiều thứ khác? Nếu chúng con mở lòng ra đón nhận Chúa vào cuộc đời, buông mình trong tay Chúa để Ngài hoạt động trong con người mỏng dòn yếu đuối của mình, chúng con sẽ trở nên như muối và ánh sáng của Chúa. Sống gắn bó thân mật với Chúa, Muối và Ánh Sáng của Chúa trong chúng con sẽ thấm sâu và lan tỏa ra nơi những người sống xung quanh chúng con: “Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời.”

                                                                  Én Nhỏ

===================== 

CHỨNG NHÂN TRUNG THÀNH

Kính thưa quý cộng đoàn Phụng vụ! Lời Chúa hôm nay: “Các con là muối đất…các con là ánh sáng thế giới…Sự sáng của các con cũng phải chiếu giãi ra trước mặt thiên hạ, để họ xem thấy những việc lành của các con mà ngợi khen Cha các con trên trời” (x. Mt 5, 13.14.16) dường như không ai trong chúng ta không biết. Tuy nhiên, để vui sống trở nên chứng nhân trung thành, chúng ta không thể không cùng suy gẫm Lời Chúa, cộng tác với ơn Ngài và nỗ lực hằng ngày!

Chắc hẳn ai cũng rõ công dụng của muối và tác dụng của ánh sáng. Muối mặn được dùng trong đời sống thường nhật, nào là nấu nướng, giữ cho thịt thà, cá tươi sống, chế biến công nghiệp, v.v…Ánh sáng giúp cho con người thấy rõ tường tận, hữu ích và tiện lợi trong cuộc sống, nghiên cứu. Nhưng trên hết, mỗi chúng ta đều lãnh nhận ánh sáng đức tin từ khi chịu phép Thánh tẩy, và cũng lúc ấy trở đi, chúng ta được mời gọi sống đức tin như thể “đặt nó trên giá đèn, hu soi sáng cho mọi người trong nhà” (x. Mt 5, 15). Đức tin này ngày càng trở nên đậm đà nhờ “muối mặn” của lòng cậy trông, việc làm bác ái. Công đồng Va-ti-can II khuyên như sau: Người giáo dân có rất nhiều cơ hội làm việc tông đồ: rao giảng Phúc âm và thánh hóa. Chính chứng tá của đời sống Ki-tô và những việc lành được làm với tinh thần siêu nhiên có sức lôi kéo người ta đến đức tin và đến với Thiên Chúa, vì Chúa phán: “Sự sáng của các con phải soi trước mắt người ta, như vậy để họ xem thấy việc lành các con mà ngợi khen Cha các con ở trên trời” (Mt 5, 16).

Thật vậy, đời sống của Mẹ Tê-rê-sa minh chứng sống động điều này. Một buổi chiều nọ, Mẹ rảo bước qua một căn nhà ở vùng ngoại ô Cal-cút-ta. Căn nhà tối đen như mực và dường như có tiếng ai đó đang rên rỉ từ bên trong vọng ra. Mẹ liền đẩy cửa bước vào, sờ soạng đi lại giường của một cụ già tiều tuỵ, đau yếu. Mẹ hỏi: ‘Nhà cụ không có đèn đóm gì à?’

Cụ già đáp: ‘Có một chiếc đèn còn tốt, nhưng chẳng có dầu ạ!’.

Nghe vậy, Mẹ lục lọi tìm chiếc đèn, lau chùi, rồi mua dầu đổ vào và đốt lên. Nhìn thế, gương mặt cụ tươi tỉnh hẳn. Ít lâu sau, Mẹ nhận được mấy dòng chữ: Nụ cười của Mẹ như dầu khích lệ, như đèn thắp sáng đời tôi!

Gương chứng tá không đòi hỏi quá cao siêu, không yêu cầu làm những gì to tác, vĩ đại, nhưng trước hết nên ‘thắp lên một ngón nến, còn hơn chỉ ngồi đó mà nguyền rủa bóng tối’. ‘Thắp lên ngọn nến’ đức tin của mình, trở nên mặn mà với niềm hy vọng, cậy trông, và trìu mến, ấm áp với lòng yêu thương mọi người, chẳng hề đố kỵ, định kiến, phân biệt! Một cách cụ thể như lời ngôn sứ I-sai-ah truyền dạy: “Hãy chia bánh của ngươi cho kẻ đói, hãy tiếp nhận vào nhà ngươi những kẻ bất hạnh không nhà ở; nếu ngươi gp một người trần truồng, hãy cho họ mặc đồ vào, và đừng khinh bỉ xác thịt của ngươi…loại bỏ khỏi ngươi xiềng xích, cử chỉ hăm do, lời nói xấu xa, khi ngươi hy sinh cho người đói rách, và làm cho những người đau khổ được vui thích…” (x. Is 58, 7.9.10). Như thế “sự sáng của ngươi tỏ rạng như hừng đông, các vết thương của ngươi sẽ lành nhanh chóng; công lý của ngươi sẽ đi trước mặt ngươi, vinh quang của Chúa sẽ hậu thuẫn cho ngươi…ánh sáng của ngươi sẽ bừng lên trong bóng tối, và bóng tối sẽ trở thành như giữa ban ngày” (x. Is 58, 8.10). Dĩ nhiên, chúng ta không lẻ loi, không làm riêng rẻ, nhưng như lời của nhà diễn thuyết John Keller: ‘Tất cả chúng ta hợp lực cùng nhau, có thể chiến thắng bóng tối, sự dữ và oán thù bằng những đốm sáng nhỏ của tình thương và lòng tốt của chúng ta’.

Hơn nữa, Thánh Giáo hoàng Phao-lô VI đã từng khẳng định: ‘Người thời nay tin vào các chứng nhân hơn là thầy dạy, và nếu họ có tin vào thầy dạy là vì các thầy dạy ấy đã là những chứng nhân’. Điều này cần kiếp và cấp bạch hơn bao giờ hết! Cũng vậy, lời bộc bạch của Thánh Phao-lô soi chiếu cho chúng ta biết hơn về gương sống chứng tá của ngài “…lời tôi nói và việc tôi rao giảng không dựa vào những lời quyến rũ của sự khôn ngoan loài người, nhưng dựa vào sự giãi bày của thần trí và quyền năng, để đức tin của anh em không dựa vào sự khôn ngoan loài người, nhưng dựa vào quyền năng của Thiên Chúa” (1Cr 2, 4-5). Trong gia đình, bố mẹ làm gương lành gương sáng cho con cái. Giữa anh chị em biết nhường nhịn, yêu thương, vị tha cho nhau! Nơi cộng đoàn giáo xứ, hội đoàn, hội dòng, v.v…, chúng ta được mời gọi trở nên chứng nhân trung tín. Ngoài xã hội, trong các mối tương quan, chúng ta được sai đi sống chứng tá yêu thương, thứ tha.

Tóm lại, ơn gọi và sứ mạng trở nên chứng nhân trung thành đều dựa trên ân sủng của Thiên Chúa và nỗ lực cộng tác, sáng tạo không ngừng của mỗi người chúng ta, như lời của một nhà tu đức trần tình: ‘Bạn muốn là một người Ki-tô hữu tốt, trước hết bạn hãy là một con người tốt. Bạn muốn là một vị thánh, thì bạn phải là một người Ki-tô hữu tốt’.

Xin đừng để ánh sáng vụt tắt,

         làm héo hắt con tim

Xin đừng để muối mặn nhạt nhẽo,

         khiến cho đời nhạt phai

Xin thắp sáng ngọn nến đức tin,

         để nung nấu cõi lòng lạnh giá

Xin ướp muối mặn nồng nàn

         với niềm cậy mến khôn ngơi. Amen!

 

Lm. Xuân Hy Vọng

=====================

MUỐI CHO ĐỜI VÀ ÁNH SÁNG CHO TRẦN GIAN

Sau khi công bố Tám Mối Phúc, Chúa Giê-su phán tiếp những lời hằng sống: “Các con là muối đất… là sự sáng thế gian” (x. Mt 5, 13-14). Lời trên chứa đựng căn tính Ki-tô giáo của chúng ta. Điều đáng nói ở đây là Chúa Giê-su không chỉ nói các môn đệ đơn giản là “muối”, là “ánh sáng” nhưng là “muối đất” và là “sự sáng thế gian”. 

Ánh sáng khởi đi từ lòng xót thương

Ngôn sứ I-sai-a mô tả chiều kích xã hội rất thực tế của đời sống đức tin. Thiên Chúa không hài lòng với những hình thức ăn chay, giữ luật bề ngoài nếu thiếu tình yêu thương và công bình, Ngài đề nghị: “Hãy chia bánh của ngươi cho kẻ đói, hãy tiếp nhận vào nhà ngươi những kẻ bất hạnh không nhà ở…Như thế, sự sáng của ngươi tỏ rạng như hừng đông” (Is 58,7-8).

Ánh sáng Thiên Chúa nói tới không phải là thứ ánh sáng phát ra từ lời nói hùng hồn, nhưng là ánh sáng của lòng bác ái được sống cụ thể. Khi con người biết mở lòng ra cho tha nhân, nhất là người nghèo khổ và bị bỏ rơi, thì chính lúc ấy Thiên Chúa tỏ mình. Thánh Gio-an Kim Khẩu đã nhấn mạnh: “Không có gì làm cho Ki-tô hữu giống Thiên Chúa cho bằng lòng thương xót”. Như thế, ánh sáng Ki-tô hữu không chiếu từ chính mình, mà là phản chiếu dung mạo Thiên Chúa là Tình Yêu.

Ánh sáng của Tin Mừng đến từ thập giá Đức Ki-tô

Trong thư gửi tín hữu Cô-rin-tô, thánh Phao-lô chia sẻ kinh nghiệm truyền giáo rất khiêm tốn của mình: “Tôi không đến với uy thế của tài hùng biện hoặc của sự khôn ngoan; tôi đến công bố bằng chứng của Thiên Chúa… để đức tin của anh em không dựa vào sự khôn ngoan loài người, nhưng dựa vào quyền năng của Thiên Chúa” (1 Cr 2,1.5).

Thánh nhân ý thức rằng, ánh sáng Tin Mừng không phát xuất từ tài hùng biện hay chiến lược con người, nhưng từ thập giá Đức Ki-tô. Đây là một nghịch lý: yếu đuối nhưng lại mạnh mẽ, đơn sơ nhưng lại biến đổi lòng người.

Thánh Công đồng Vaticanô II cũng khẳng định điều này khi nói rằng, Hội Thánh “không cậy dựa vào đặc quyền trần thế, nhưng vào quyền năng của Thập Giá Chúa Ki-tô” (Hiến chế Lumen Gentium, số 8). Người Ki-tô hữu chỉ thực sự là ánh sáng khi họ sống khiêm nhường và tín thác vào ân sủng Chúa.

“Muối đất… và sự sáng thế gian”

Đỉnh cao của Lời Chúa hôm nay là lời Đức Giê-su trong Tin Mừng Mát-thêu: “Các con là muối đất… các con là sự sáng thế gian” (Mt 5,13-14).

Muối không hiện diện để phô trương, nhưng để thấm vào và làm dậy men. Ánh sáng không chiếu cho chính mình, nhưng để người khác nhìn thấy đường đi. Đức Giê-su không nói “anh em phải trở nên”, nhưng khẳng định “anh em là”. Điều đó cho thấy căn tính Kitô hữu phát sinh từ mối hiệp thông với Người.

Thánh Au-gút-ti-nô giải thích: “Đức Ki-tô là ánh sáng thật; chúng ta là ánh sáng nhờ được thắp lên từ Người” (Chú giải Tin Mừng Gio-an). Nếu tách khỏi Đức Ki-tô, muối sẽ nhạt và ánh sáng sẽ tắt.

Đồng thời, Đức Giê-su cảnh báo: muối có thể ra nhạt, ánh sáng có thể bị che khuất. Đó là khi đời sống đức tin không còn gắn với hành động, khi lời tuyên xưng không đi đôi với chứng tá. Công đồng Trentô đã dạy rằng đức tin sống động luôn phải được biểu lộ bằng việc làm bác ái (Sắc lệnh về Công chính hóa).

Vì thế, mối liên kết giữa “muối” và “ánh sáng” được thể hiện. Lời Chúa Giê-su gửi đến mỗi chúng ta là hãy chiếu tỏa “ánh sáng” trước mặt mọi người, nghĩa là toàn bộ đời sống ta phải phản ánh ngọn lửa của Chúa Thánh Thần, chúng ta đã lãnh nhận ngày chịu phép Rửa tội: “Chính Người cũng đã đóng ấn tín trên chúng ta và đổ Thần Khí vào lòng chúng ta làm bảo chứng” ( x. 2 Cor 1, 22). Ngọn lửa này tỏa sáng qua việc loan báo Tin Mừng với lòng từ tâm, Tin Mừng cứu độ cho hết mọi người trong Đức Giê-su Ki-tô đã chết và sống lại. 

Đức cố Giáo Hoàng Bê-nê-đíc-tô XVI nhắc lại rằng “Quả thật, lời rao giảng và chứng tá cho Tin Mừng là công việc phục vụ đầu tiên mà những người kitô có thể cống hiến cho mọi người cũng như cho toàn thể nhân loại, xét vì những người ki-tô là những kẻ được mời gọi thông truyền cho tất cả mọi người tình yêu của Thiên Chúa Cha, được biểu lộ tròn đầy nơi Chúa Giê-su Ki-tô, Ðấng Cứu Thế Duy Nhất của thế giới”. (Diễn văn tại Ðại Học Truyền Giáo Roma 11/3/ 2006 nhân dịp kỷ niệm bốn mươi của Nghị định “Ad gentes” của Công Đồng Vatican II).

Chúa Nhật V Mùa Thường Niên mời gọi mỗi chúng ta xét lại đời sống Ki-tô hữu của mình: ta có đang là muối còn mặn không? Ánh sáng của ta có đang chiếu sáng không? Trong một thế giới đầy bóng tối của ích kỷ, bạo lực và dửng dưng, Thiên Chúa không cần những Ki-tô hữu hoàn hảo, nhưng cần những con người sẵn sàng để cho ánh sáng của Người đi qua cuộc đời mình.

Chúng ta cùng cầu xin Chúa cho chúng ta biết sống đức tin bằng những hành động cụ thể của yêu thương, khiêm nhường và phục vụ, để giữa đời thường, ánh sáng Đức Ki-tô tiếp tục bừng sáng và muối Tin Mừng không bao giờ nhạt đi.

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

========================

LÀ MUỐI, LÀ ÁNH SÁNG

Sau các Mối Phúc – bản “hiến chương” của Nước Trời – Đức Giêsu lại tiếp tục triển khai bằng hai hình ảnh rất đời thường: muối và ánh sáng. Người không nói: “Anh em hãy trở thành muối” hay “hãy cố gắng làm ánh sáng”, nhưng khẳng định dứt khoát: “Anh em muối cho đời… Anh em ánh sáng cho trần gian” (Mt 5,13–14). Đó không chỉ là lời mời gọi luân lý, mà là một tuyên bố về căn tính: người môn đệ không chỉ mang sứ vụ, nhưng mang trong mình một bản chất.
1. Bản chất của muối
“Anh em là muối cho đời. Nhưng nếu muối nhạt đi, thì lấy gì muối cho mặn lại?” (c.13). Điều đáng chú ý là muối không bao giờ được dùng một mình. Nó tồn tại để tan vào, thấm vào và làm nổi bật cái khác. Muối không áp đặt mùi vị riêng, nhưng giúp thức ăn trở thành chính nó ở mức độ trọn vẹn hơn. Hình ảnh ấy đi ngược với não trạng của một thời đại đề cao sự nổi bật cá nhân, nơi ai cũng muốn “để lại dấu ấn” và tối ưu hóa sự hiện diện của mình.
Trong thế giới cổ đại, muối không chỉ để nêm nếm, mà còn để bảo quản, sát trùng, chữa lành và ngăn chặn sự hư hoại. Vì thế, điều đáng sợ không phải là thế giới “nhạt”, mà là muối đánh mất bản chất của mình. Đức Giêsu dùng một hình ảnh rất nặng: muối nhạt thì “chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp”. Trong ngôn ngữ hôm nay, đó là nguy cơ của một Kitô giáo chỉ còn hình thức, không còn “hàm lượng Tin Mừng”, mất đi sức thuyết phục từ bên trong. Một đức tin không còn khả năng thấm nhập đời sống thì sớm muộn cũng bị gạt ra bên lề như một yếu tố không cần thiết.
2. Ánh sáng được trao, không tự phát
“Anh em là ánh sáng cho trần gian” (c.14). Thánh Gioan khẳng định: “Thiên Chúa là ánh sáng” (1 Ga 1,5), và chính Đức Giêsu tuyên bố: “Ta là ánh sáng thế gian” (Ga 8,12). Điều gây ngỡ ngàng là: ánh sáng ấy lại được trao cho các môn đệ.
Sách Giáo lý Hội Thánh Công Giáo (số 1216) nhấn mạnh: nhờ Phép Rửa, người Kitô hữu được “soi sáng” và trở thành “con cái sự sáng”. Nói cách khác, chúng ta không tự phát sáng; chúng ta phản chiếu. Giống như mặt trăng chỉ sáng khi hướng về mặt trời, đời sống Kitô hữu chỉ rạng rỡ khi gắn liền với Đức Kitô qua Lời Chúa, Thánh Thể và đời sống cầu nguyện. Khi tách khỏi nguồn sáng ấy, ánh sáng nơi ta tất yếu sẽ mờ dần, như một thiết bị cạn pin. Một đức tin chỉ tồn tại trong nhà thờ mà không bước vào đời thường sớm muộn sẽ trở thành một thứ “ánh sáng giả lập”: có hình thức, nhưng thiếu sức chiếu soi.
3. Ánh sáng của đời sống
“Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha anh em” (c.16). Bài đọc I (Is 58,7–10) giúp chúng ta hiểu rõ hơn: ánh sáng Kitô giáo không phát sinh từ nghi thức đạo đức tách rời đời sống, nhưng từ một lối sống biết bẻ đôi tấm bánh, mở cửa nhà và mở cửa lòng. Ánh sáng ấy không chiếu từ tháp ngà đạo đức, mà bừng lên ngay giữa bóng tối của những thân phận bị lãng quên.
Câu chuyện của Mahatma Gandhi trở thành một lời chất vấn không dễ chịu. Ông đón nhận Đức Kitô, nhưng thất vọng trước những tín hữu không sống như Đức Kitô. Đó là khoảng cách giữa “nội dung” và “trải nghiệm người dùng”: Tin Mừng thì cao đẹp, nhưng thực tế nơi đời sống Kitô hữu lại không đủ sức thuyết phục.
Như Đức Gioan Phaolô II từng nhìn nhận rằng, những phản chứng trong lịch sử Giáo Hội đã làm lu mờ khuôn mặt Tin Mừng. Ánh sáng bị che khuất không phải vì yếu, mà vì bị chắn bởi chính những người được trao cho ánh sáng ấy.
4. Muối và ánh sáng
Muối và ánh sáng không phải là hai sứ mạng song song, mà là hai biểu hiện của cùng một thực tại: sự sống của Đức Kitô trong chúng ta. Muối nói đến chiều kích thấm nhập âm thầm; ánh sáng nói đến sự hiển lộ tự nhiên. Cả hai đều vận hành bằng chiến lược, mà bằng sự hiện diện.
Triết lý Á Đông gọi mục tiêu tu thân là “minh minh đức” – làm sáng cái Đức đã có sẵn. Đức tin Kitô giáo đi xa hơn: không chỉ làm sáng bản thân, mà để chính Đức Kitô sống và tỏa sáng trong toàn bộ con người mình. Như thánh Phaolô diễn tả: “Tôi sống, nhưng không còn là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20).
Khi đó, đời sống Kitô hữu không còn là một vai diễn đạo đức, hay một căn cước tôn giáo mang tính xã hội, nhưng là một sự hiện diện có sức biến đổi. Và chính sự hiện diện ấy – âm thầm như muối tan đi, hiển nhiên như ánh sáng không thể bị che – mới là con đường khả tín nhất để thế giới hôm nay nhận ra và tôn vinh Thiên Chúa.
Cầu nguyện
Lạy Chúa Giêsu!
Chúa đặt con làm muối ướp cho đời,
để cho trần gian này luôn tươi mới,
và là ánh sáng soi vào thế giới,
để làm cho cuộc sống được đẹp ngời.

Nhưng bóng tối như mây mù vây phủ,
ở bên ngoài và ở cả bên trong,
khiến tâm con vẫn u hoài thổn thức,
làm đời con vẫn day dứt không ngơi.

Thật ra chỉ có Chúa là Ánh Sáng,
nhưng Chúa lại áp dụng cho chúng con,
nên chúng con chỉ có thể chiếu sáng,
khi ở trong ánh sáng của Lời Ngài.

Muối và ánh sáng tuy vẫn là hai,
nhưng thực ra diễn tả một thực tại,
là sự sống của Chúa ở trong con,
và khi con biết sống ở trong Chúa.

Nên đời con phải gắn bó với Ngài,
vì thiếu Chúa muối đời con sẽ nhạt,
và ánh sáng đời con sẽ lụi tàn,
dễ lu mờ bởi bóng tối thế gian.

Xin cho con sống âm thầm như muối,
biết hòa tan để thấm nhập vào đời,
đừng làm gì để cho mình nổi trội,
nhưng để Chúa được nhận biết mà thôi.

Xin cho con nên ánh sáng thế gian,
là phản chiếu sự hiện diện của Chúa,
qua việc lành và việc thiện mỗi ngày,
để cuộc đời thêm đẹp mới từ nay. Amen

Lm. Thái Nguyên

 ====================

TỪ ÂN SỦNG CHỮA LÀNH ĐẾN SỨ VỤ PHỤC VỤ
Tin Mừng của Chúa Nhật V Thường Niên hôm nay, trích từ chương đầu của sách Tin Mừng theo thánh Máccô, không chỉ phác họa cho chúng ta hình ảnh một Đức Giêsu đầy quyền năng và lòng thương xót qua các phép lạ chữa bệnh, mà còn kín đáo mở ra một chiều kích sâu sắc hơn, một chân lý nền tảng của đời sống Kitô hữu: đó là mối liên kết không thể tách rời giữa việc lãnh nhận ân sủng của Thiên Chúa và sứ vụ phục vụ tha nhân. Hành trình đức tin của người môn đệ luôn là một con đường hai chiều: được Thiên Chúa yêu thương, chữa lành, nâng đỡ, và từ đó, trở nên người phục vụ, người mang tình yêu và sự chữa lành ấy đến cho người khác. Hình ảnh của bà nhạc gia ông Simôn-Phêrô chính là biểu tượng sống động và mẫu mực cho hành trình biến đổi này. Chúng ta hãy cùng nhau chiêm ngắm và suy niệm về con đường mang tên "Từ ân sủng chữa lành đến sứ vụ phục vụ".
Câu chuyện bắt đầu tại một nơi chốn rất đời thường, nhà của hai anh em Simôn và Anrê. Sau buổi giảng dạy tại hội đường, Chúa Giêsu đã tìm đến sự ấm cúng của một mái ấm gia đình. Nhưng ngay cả trong không gian riêng tư ấy, nỗi đau của con người vẫn hiện diện. Bà nhạc mẫu của ông Simôn đang nằm liệt giường vì một cơn sốt. Bà đang ở trong tình trạng thụ động, bất lực, cần đến sự chăm sóc của người khác. Bà là hình ảnh của nhân loại chúng ta, một nhân loại thường xuyên bị quật ngã bởi những "cơn sốt" của cuộc đời. Đó có thể là cơn sốt của bệnh tật thể xác, làm tiêu hao sức lực, cướp đi niềm vui. Đó cũng có thể là cơn sốt của tâm hồn: cơn sốt của sự giận dữ, hận thù, của lòng ghen tương, ích kỷ, thiêu đốt sự bình an nội tâm. Đó còn là cơn sốt của tinh thần: cơn sốt của sự lo âu, sợ hãi trước tương lai, của sự thất vọng, chán nản, làm tê liệt ý chí và hy vọng. Khi bị những cơn sốt ấy hành hạ, chúng ta cũng giống như bà nhạc gia ông Phêrô, chỉ có thể "nằm đó", sống trong sự lệ thuộc, hướng nội và chỉ biết đến nỗi đau của riêng mình.
Trong tình trạng đó, một biến cố mang tính bước ngoặt đã xảy ra: Đức Giêsu đến. Ngài là hiện thân của ân sủng Thiên Chúa đi vào trong lịch sử và trong cuộc đời mỗi người. Ngài không chờ đợi một lời van xin thống thiết. Tin Mừng chỉ nói đơn giản: "lập tức người ta nói cho Người biết tình trạng của bà". Và Ngài đã hành động. "Người lại gần, cầm lấy tay bà mà đỡ dậy". Hành động này của Chúa Giêsu là một cuộc giải phóng đích thực. Ngài không chỉ chữa lành một triệu chứng bệnh lý, mà còn phục hồi toàn diện con người. Cái nắm tay của Ngài là sự thông truyền sức sống, là sự chia sẻ Thần Khí. Cử chỉ "đỡ dậy" của Ngài mang âm hưởng của sự phục sinh, đưa con người từ cõi chết đến cõi sống, từ tình trạng nằm liệt đến tư thế đứng thẳng, tư thế của một con người tự do, đầy phẩm giá. Ân sủng của Thiên Chúa là như thế. Nó không chỉ là sự tha thứ tội lỗi, mà còn là một sức mạnh tái tạo, một năng lực thần linh biến đổi chúng ta từ sâu thẳm. Mỗi lần chúng ta đến với Bí tích Giao Hòa, chúng ta cũng được Chúa "cầm lấy tay mà đỡ dậy" từ những vấp ngã của mình. Mỗi lần chúng ta rước lễ, chúng ta được thông hiệp vào chính sự sống phục sinh của Ngài. Mỗi lần chúng ta lắng nghe và suy niệm Lời Chúa, chúng ta được lời hằng sống ấy chữa lành và ban thêm sức mạnh.
Và đâu là kết quả tức thời và rõ ràng nhất của việc được chữa lành? Tin Mừng ghi lại một chi tiết vô cùng quan trọng: "cơn sốt dứt ngay và bà phục vụ các ngài". Đây chính là mấu chốt của bài suy niệm hôm nay. Việc được chữa lành không phải là điểm kết thúc, mà là điểm khởi đầu. Ân sủng nhận được không phải để cất giữ cho riêng mình, mà để trở thành động lực cho sứ vụ. Bà nhạc gia ông Phêrô đã không nằm nghỉ ngơi thêm, không tận hưởng tình trạng khỏe mạnh mới được phục hồi cho bản thân. Ngay lập tức, bà đã bắt tay vào việc phục vụ. Từ một người được phục vụ, bà trở thành người phục vụ. Động từ "phục vụ" ở đây, trong tiếng Hy Lạp là "diakonein", là từ gốc của chữ "diakonia" (phó tế, phục vụ), một thuật ngữ then chốt trong đời sống Giáo Hội. Nó không chỉ có nghĩa là dọn bữa ăn, lo việc nội trợ, mà còn mang ý nghĩa của một sự phục vụ trong tinh thần yêu thương và khiêm tốn, một sự dấn thân vì hạnh phúc của người khác.
Hành động của bà là lời đáp trả đẹp nhất, chân thành nhất cho ân huệ mà bà vừa nhận được. Bà đã đáp lại tình yêu bằng tình yêu. Bà đã đáp lại hành động phục vụ của Chúa Giêsu bằng chính hành động phục vụ của mình. Chúa Giêsu, Thầy và là Chúa, đã đến "không phải để được phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá chuộc muôn người" (Mc 10,45). Khi chữa lành cho bà, Ngài đã mời gọi bà đi vào trong chính linh đạo phục vụ của Ngài. Đây là một quy luật thiêng liêng: bất cứ ai thực sự cảm nghiệm được lòng thương xót của Chúa, người đó không thể không trở nên thương xót. Bất cứ ai được Chúa phục vụ một cách nhưng không, người đó không thể không khao khát phục vụ anh chị em mình. Nếu đời sống đức tin của chúng ta chỉ dừng lại ở việc cầu xin và lãnh nhận các ơn lành cho bản thân, mà không dẫn đến những hành động phục vụ cụ thể, thì đó là một đức tin còi cọc, què quặt. Ân sủng mà không sinh hoa kết quả là ân sủng chết.
Bài đọc thứ hai hôm nay vang lên lời của thánh Phaolô, một con người đã được ân sủng của Chúa biến đổi tận căn. Từ một kẻ bắt bớ đạo, Phaolô đã trở thành vị Tông đồ nhiệt thành của dân ngoại. Ngài ý thức sâu sắc rằng sứ vụ rao giảng Tin Mừng không phải là một công trạng để tự hào, mà là một bổn phận, một sự thôi thúc từ bên trong, một món nợ tình yêu phải trả. Ngài thốt lên: "Đối với tôi, rao giảng Tin Mừng không phải là lý do để tự hào, mà đó là một sự cần thiết bắt buộc tôi phải làm. Khốn cho tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng!". Sự "bắt buộc" ở đây không phải là một sự ép buộc từ bên ngoài, nhưng là một sự thúc đẩy mạnh mẽ của tình yêu Đức Kitô từ bên trong tâm hồn. Tình yêu ấy đã chiếm đoạt ngài, biến đổi ngài, và giờ đây thúc bách ngài phải chia sẻ Tin Mừng cứu độ cho mọi người. Cũng giống như bà nhạc gia ông Phêrô, sau khi được "đỡ dậy", đã lập tức "phục vụ", thì thánh Phaolô, sau khi được Chúa Phục Sinh "nắm lấy", đã dành trọn cuộc đời để "chạy tới" (x. Pl 3,12).
Lời của thánh Phaolô không chỉ dành cho các giám mục, linh mục hay tu sĩ. Lời ấy cũng dành cho mỗi người chúng ta, những người đã được lãnh nhận bí tích Rửa Tội. Mỗi chúng ta đều có một sứ vụ, một ơn gọi để phục vụ trong bậc sống của mình. Người cha, người mẹ phục vụ gia đình qua sự hy sinh, tần tảo, giáo dục con cái trong đức tin và tình yêu. Người công nhân, viên chức, bác sĩ, giáo viên phục vụ xã hội qua sự lương thiện, tận tâm và chuyên nghiệp trong công việc. Người trẻ phục vụ Giáo Hội và xã hội qua lòng nhiệt thành, sự sáng tạo và lý tưởng sống cao đẹp. Người già yếu, bệnh tật phục vụ qua lời cầu nguyện và sự hiệp thông trong đau khổ với cuộc khổ nạn của Chúa Kitô. Không có một đời sống Kitô hữu đích thực nào mà lại thiếu đi chiều kích phục vụ. Sự phục vụ ấy có thể là những việc làm lớn lao, nhưng phần lớn, nó được thể hiện qua những hành động nhỏ bé, âm thầm, xuất phát từ một con tim yêu mến, giống như việc làm của bà nhạc gia ông Phêrô.
Tuy nhiên, trong thực tế, chúng ta thường gặp phải nhiều cám dỗ ngăn cản chúng ta sống tinh thần phục vụ. Sau khi được Chúa chữa lành một "cơn sốt" nào đó, ví dụ sau một biến cố trở lại, một kinh nghiệm thiêng liêng sâu sắc, chúng ta có thể rơi vào tình trạng hưởng thụ ân sủng một cách ích kỷ. Chúng ta hài lòng với sự bình an, niềm vui mới tìm lại được, và quên đi nhu cầu của những người xung quanh. Chúng ta xây cho mình một ốc đảo thiêng liêng và không muốn bị làm phiền. Hoặc chúng ta có thể rơi vào sự lười biếng, trì hoãn. Chúng ta nghĩ rằng việc phục vụ là của người khác, của những người "thánh thiện hơn", "có điều kiện hơn". Chúng ta quên rằng mỗi ơn lành Chúa ban đều đi kèm với một trách nhiệm. Một cám dỗ khác là sự tính toán, so đo. Chúng ta chỉ phục vụ những ai mang lại lợi lộc cho mình, những người "xứng đáng" được giúp đỡ. Chúng ta quên rằng tình yêu của Chúa là nhưng không, và Ngài mời gọi chúng ta cũng hãy cho đi một cách nhưng không như vậy.
Đoạn Tin Mừng hôm nay kết thúc với hình ảnh cả thành Caphácnaum tuôn đến với Chúa, mang theo mọi nỗi thống khổ của họ. Chúa Giêsu, sau khi chữa lành cho bà nhạc gia ông Phêrô, đã không nghỉ ngơi. Ngài tiếp tục sứ vụ phục vụ của mình, một sự phục vụ không biết mệt mỏi, kéo dài cho đến chiều tối. Ngài đã mở rộng vòng tay để đón nhận tất cả, để chữa lành tất cả. Hình ảnh này là một lời mời gọi khẩn thiết cho Giáo Hội và cho mỗi Kitô hữu. Thế giới hôm nay cũng giống như thành Caphácnaum xưa, đầy dẫy những con người đang đau khổ cả về thể xác lẫn tinh thần, đang khao khát được gặp gỡ một tình thương chữa lành. Họ đang "xúm lại trước cửa" của các cộng đoàn Kitô hữu chúng ta. Họ có tìm thấy nơi chúng ta một khuôn mặt của lòng thương xót, một bàn tay sẵn sàng nâng đỡ, một con tim biết lắng nghe và cảm thông không? Hay họ chỉ gặp phải những cánh cửa đóng kín của sự dửng dưng, thành kiến và ích kỷ?
Mỗi Thánh Lễ chúng ta tham dự là một kinh nghiệm được Chúa chữa lành và phục vụ. Nơi đây, Chúa chữa lành chúng ta bằng Lời hằng sống và bằng chính Mình và Máu Thánh Ngài. Ngài "cầm lấy tay" và "đỡ" chúng ta "dậy". Vậy thì, sau mỗi Thánh Lễ, khi trở về với cuộc sống đời thường, chúng ta sẽ làm gì? Liệu chúng ta có bắt chước bà nhạc gia ông Phêrô, để rồi lập tức bắt tay vào việc "phục vụ" những người mà Chúa đã đặt để trong cuộc đời chúng ta không? Ước gì mỗi người chúng ta, sau khi được no đầy ân sủng từ bàn tiệc Lời Chúa và Thánh Thể, cũng biết trở nên tấm bánh được bẻ ra cho sự sống của anh chị em mình. Xin cho hành trình đức tin của chúng ta luôn là một hành trình kép: đi từ bàn thờ đến với tha nhân, và rồi lại mang những thao thức, nỗi niềm của tha nhân trở về với bàn thờ. Đó chính là nhịp đập con tim của người môn đệ, một con tim đã được Chúa chạm vào và biến đổi để yêu thương và phục vụ. Amen.

Lm. Anmai, CSsR

====================

SỢ TAN, SỢ CHÁY

“Anh em là muối cho đời!”; “Là ánh sáng cho trần gian!”.
“Kitô hữu bị Lời Tin Mừng chi phối sẽ chẳng giữ mình nguyên vẹn, nhưng lan toả ánh sáng cho người khác!” - Raniero Cantalamessa.
Kính thưa Anh Chị em,
Một khi dám để Tin Mừng chi phối, chẳng ai có thể giữ mình nguyên vẹn! Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta dám không còn nguyên vẹn vì yêu thương; thế nhưng, điều làm chúng ta chùn bước lại chỉ là một nỗi ‘sợ tan, sợ cháy!’.
Muối chỉ có ích khi tan; nhưng chúng ta lại thích làm muối nguyên hạt: giữ danh dự, giữ an toàn, giữ khoảng cách. Chúng ta muốn ảnh hưởng nhưng không muốn hoà mình; muốn người khác đổi thay mà không muốn tiêu hao. Và thế là đời sống đức tin nhạt dần, không vì thiếu hoạt động, nhưng vì thiếu dấn thân - ‘sợ tan’ - đến mức “mất mình”. Cũng thế, đèn không cháy để tồn tại; đèn cháy để soi. Mỗi lần sáng là mỗi lần mòn hao. Nhưng chúng ta sợ bị hiểu lầm, từ chối, sợ bị lợi dụng nên thường che đèn dưới chiếc thùng của sự khôn ngoan an toàn, của những tính toán vừa đủ - và gọi đó là “cân bằng” - nhưng nhiều khi chỉ là để biện minh cho việc ‘sợ cháy’ một cách lịch sự. “Nếu ước mơ của bạn không làm bạn sợ, thì chúng chưa đủ lớn!” - Ellen Sirleaf.
Dám tan, dám cháy sẽ rất cụ thể khi “chia cơm cho người đói, thấy ai mình trần thì cho áo che thân” - bài đọc một. Dám tan, dám cháy không bừng lên từ những ý tưởng cao siêu, nhưng từ những tấm bánh tình yêu dám bị bẻ ra. Vì thế, Phaolô chỉ rao giảng Đức Kitô chịu đóng đinh - bài đọc hai - và chính từ thập giá ấy, “bừng lên một ánh sáng” - Thánh Vịnh đáp ca - nơi điều xem ra yếu đuối lại chính là quyền năng của Thiên Chúa.
Kitô hữu không thiếu cơ hội làm điều tốt; nhưng vấn đề ở chỗ, muốn làm điều tốt mà không trả giá. Muốn yêu mà không đau; cho mà không mất - ‘sợ tan’; muốn chiếu sáng mà không mòn - ‘sợ cháy’. Nhưng muối không tan chỉ còn là sỏi; đèn không cháy chỉ còn là đồ trang trí tôn giáo. ‘Sợ tan, sợ cháy’, chúng ta đánh mất bản chất và căn tính! “Với tất cả những gì bạn yêu thương, chắc chắn bạn đều phải trả một cái giá nào đó!” - Agatha Christie.
Anh Chị em,
Hãy nhìn lên Chúa Kitô! Ngài không ‘sợ tan’ vào thân phận con người, không ‘sợ cháy’ cho tình yêu đến tận cùng. Trên thập giá, Ngài không giữ mình nguyên vẹn; thân mình bị bẻ ra như tấm bánh để tình yêu bị đốt cháy đến giọt cuối cùng. Chính nơi đó, ánh sáng bừng lên giữa bóng tối; muối thấm vào lịch sử nhân loại. Thuộc về Ngài, chúng ta được mời gọi bước vào cùng nhịp tự hiến ấy. Không phải để tìm đau khổ, nhưng để không trốn chạy tình yêu; không để phô diễn anh hùng, nhưng để sống trung thực với phẩm tính đã lãnh nhận. Chúng ta không được sai đi để giữ mình nguyên vẹn, nhưng để trở nên quà tặng. “Tình yêu hy sinh mọi điều để ban phước cho điều mà nó yêu!” - Edward Bulwer-Lytton.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, con sợ tan vào đám đông, cho con dám hoà mình; sợ cháy đến tận cùng, cho con dám yêu đến nơi; sợ không còn nguyên vẹn, cho con trở nên quà tặng!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

====================

MỖI TÍN HỮU LÀ MUỐI, LÀ ÁNH SÁNG (Mt 5,13-16)
Chính anh em là muối cho đời,… là ánh sáng cho trần gian.
 
Kính thưa cộng đoàn,
Tin Mừng hôm nay nằm trong phần Bài giảng trên núi. Khởi đầu bài giảng, Chúa Giê-su đưa ra Tám Mối Phúc, là con đường dẫn đến hạnh phúc đích thực. Chúa Giê-su nói với các môn đệ rằng: “Chính anh em là muối cho đời,… là ánh sáng cho trần gian.”. Người mời gọi các môn đệ là những người tiên phong sống tinh thần Tám Mối Phúc. Các ngài làm chứng cho Tám Mối Phúc trên trần gian. Ở đây, Chúa Giê-su không nói: ‘Anh em phải cố gắng trở nên muối cho đời hay trở thành ánh sáng trên trần gian.’. Thay vì nói như vậy, Người khẳng định rất mạnh mẽ: “Chính anh em là ánh sáng cho đời… Chính anh em là ánh sáng cho trần gian.”. Các môn đệ mang sẵn trong mình sứ mạng làm chứng và loan báo Tin Mừng cho nhân loại.
Chúa Giê-su dùng hai hình ảnh: Muối và ánh sáng nói lên bản chất của người môn đệ. Muối là loại hạt nhỏ bé, không phô trương. Nhưng muối có tác dụng lớn trong đời sống, vừa giữ cho thức ăn khỏi hư vừa làm cho thức ăn thêm đậm đà, có vị. Do đó, các môn đệ được mời gọi không hòa tan hay thỏa hiệp với sự gian dối. Bởi Chúa Giê-su đã nói: “Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống.” (Ga 14,6). Chúa Giê-su đến làm chứng cho sự thật. Người cũng muốn các môn đệ làm chứng cho sự thật. Hơn nữa, các môn đệ cũng được mời gọi sống yêu thương ướp mặn cuộc đời để loại trừ tính ích kỷ, dối trá và vô cảm đang đục khoét lương tâm con người. Chúa Giê-su nhấn mạnh: “Muối mà nhạt đi, thì lấy gì ướp cho mặn lại?” Như thế, đời sống đức tin không được hời hợt, hình thức, chỉ giữ bên ngoài.
Bên cạnh đó, Chúa Giê-su dùng hình ảnh ánh sáng để nói đến đời sống chứng nhân người môn đệ. Ánh sáng không tồn tại cho chính nó. Mục đích của ánh sáng là chiếu soi để người khác được thấy. Người môn đệ không sống cho mình, mà sống cho người khác. Người môn đệ đón nhận ánh sáng từ Thầy. Giờ đây, các ông được sai đi đem ánh sáng Lời Chúa đến cho muôn người, chứ không phải giữ riêng cho bản thân.
Ngày nay, Chúa Giê-su cũng mời gọi các tín hữu ý thức sứ mạng loan báo Tin Mừng khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội. Các Ki-tô hữu không được giữ cho riêng mình đức tin đã lãnh nhận, mà phải loan báo cho người khác. Mỗi người dùng chính đời sống làm chứng cho Tin Mừng như lời Chúa Giê-su dạy: “Người ta thấy những việc tốt đẹp anh em làm mà tôn vinh Cha anh em trên trời.”
Có một y tá Công giáo làm việc trong một bệnh viện lớn. Chị không giảng đạo, không đeo bảng “tôi là người Công giáo”.
Nhưng:

  • Luôn nhẹ nhàng với bệnh nhân khó tính
  • Không nhận phong bì
  • Sẵn sàng ở lại lâu hơn để an ủi người hấp hối

Một ngày kia, một bệnh nhân hỏi: “Tại sao cô luôn đối xử tốt với mọi người như vậy?”
Chị chỉ mỉm cười: “Vì tôi tin rằng mỗi người đều rất quý trước mặt Thiên Chúa.”
Sau này, chính bệnh nhân đó đã xin tìm hiểu đạo.
Lạy Chúa, xin cho con biết dùng những công việc nhỏ bé để làm chứng cho Chúa nơi trần gian. A-men.

Jos. Nguyễn

=====================

Thông tin khác:
 

 

 
 
 
 
Bài Giảng của Đức Cha Đaminh Hoàng Minh Tiến Trong Thánh Lễ Bế Mạc Năm Thánh 2025
Liên kết website

 

 

 

Tiêu điểm
Loạt phim kể về cuộc đời Chúa Giêsu và các môn đệ lập kỷ lục Guinness khi được dịch sang nhiều ngôn ngữ nhất thế giới
Loạt phim kể về cuộc đời Chúa Giêsu và các môn đệ lập kỷ lục Guinness khi được dịch sang nhiều ngôn ngữ nhất thế giới
Ngày 23/2/2026, loạt phim truyền hình Mỹ “The Chosen” – tái hiện cuộc đời Chúa Giêsu và các môn đệ đầu tiên – đã chính thức được Guinness World Records công nhận lần thứ hai là series được dịch ra nhiều ngôn ngữ nhất trong lịch sử. Riêng mùa đầu tiên hiện đã có mặt bằng 125 ngôn ngữ, vượt xa các mô hình phân phối quốc tế truyền thống.
Website giaophanhunghoa.org được phát triển bởi đơn vị thiết kế web: MIP™ (www.mip.vn - mCMS).
log