
Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB
====================
AI ĐƯỢC CHÚC PHÚC (Mt 5,1-12a)
“Phúc thay ai…”
Kính thưa cộng đoàn,
Tin Mừng hôm nay thật quen thuộc với mỗi người. Chúa Giê-su công bố Tám Mối Phúc, hay còn được gọi là ‘Hiến Chương Nước Trời’, hoặc Bài Giảng trên núi. Tám Mối Phúc vẫn thường được cất lên vào ngày Chúa Nhật và các ngày lễ Trọng. Nghe thì quen quen, nhưng Tám Mối Phúc luôn mang đến những điều mới mẻ khi suy ngẫm và áp dụng trong cuộc sống. Ngay trong bản Hiến chương Nước Trời, Chúa Giê-su tuyên bố phúc cho những người mà thế gian cho là bất hạnh. Họ là những người nghèo khó, hiền lành, đau khổ, biết xót thương, sống công chính, bị bách hại… Qua đó, Chúa Giê-su mời gọi chúng ta thay đổi cách nhìn về người được chúc phúc.
Khởi đầu mỗi câu, Chúa Giê-su nói: “Phúc cho ai…”. Chữ ‘Phúc cho ai…’ không chỉ nhắm đến lời hứa phần thưởng trong tương lai, nhưng là niềm hạnh phúc đã bắt đầu ngay trong hiện tại khi người môn đệ biết đặt trọn niềm tin vào Thiên Chúa. Tám Mối Phúc chính là kim chỉ nam giúp con người phải sống thế nào theo đúng lời mời gọi của Chúa Giê-su.
Phúc cho người nghèo khó trong tinh thần. Họ không dựa vào của cải vật chất, quyền lực, địa vị xã hội, mối quan hệ. Họ chỉ một lòng cậy trông vào Thiên Chúa. Trong mọi việc, họ đều thực hiện dưới ánh sáng Lời Chúa dẫn đưa.
Phúc cho người hiền lành. Hiền lành không phải yếu đuối. Hiền lành không phải yếm thế. Người hiền lành biết làm chủ bản thân, sống công chính, không sợ cường quyền, không hách dịch với người yếu. Người đó luôn sống ngay chính, bảo vệ những người nghèo khó, can đảm làm chứng cho sự thật.
Phúc cho người đau khổ, khóc lóc. Họ đau khổ vì mất mát, bệnh tật, bất công. Họ đau khổ vì tội lỗi của bản thân và của thế gian. Họ day dứt khi thấy điều ác, điều sai trái vẫn tồn tại. Những người này đón nhận đau khổ và sẵn sàng đối diện với nó. Còn khóc lóc thì sao? Những người khóc lóc trong tinh thần phó thác, không tuyệt vọng. Họ khóc mà không đóng cửa lòng mình với Thiên Chúa, khóc mà luôn tin rằng mọi biến cố đều có ý nghĩa và hy vọng một tương lai tươi sáng. Họ sẵn sàng chịu đựng những thử thách, nhưng không để tâm hồn hóa cay đắng với cuộc đời.
Phúc cho ai bị bách hại vì sống công chính. Sống theo Tin Mừng là sống theo sự thật, làm chứng cho sự thật, bảo vệ sự thật, loan báo sự thật. Người môn đệ cần can đảm sống Tin Mừng giữa một thế giới đi ngược với Tin Mừng. Người môn đệ chắc chắn sẽ bị bắt bớ, bỏ tù, giết chết. Bởi chính Chúa Giê-su, Thầy dạy sống công chính, bị con người vu oan, kết án và giết trên thập giá.
Như vậy, Tám Mối Phúc không phải là bản lý thuyết xuông, mà là con đường dẫn đến sự sống đích thực. Mỗi người được mời gọi sống theo tinh thần Tám Mối Phúc để được chúc phúc đời này lẫn đời sau. Thánh Au-gút-ti-nô nói: “Tám Mối Phúc là những nấc thang đưa con người lên tới Thiên Chúa.”
Một giáo xứ nọ có một bà mẹ đơn thân rất nghèo. Một hôm, khi chỉ còn một ổ bánh mì cuối cùng cho hai mẹ con, có người hàng xóm gõ cửa xin giúp vì gia đình họ còn đói hơn. Bà do dự, rồi bẻ ổ bánh làm hai và trao đi một nửa.
Tối hôm đó, bà nói với con:
“Mẹ không biết ngày mai thế nào, nhưng mẹ biết Chúa không bỏ rơi những ai biết chia sẻ.”
Không lâu sau, giáo xứ biết hoàn cảnh bà và cùng nhau giúp đỡ. Bà vẫn nghèo, nhưng trong ánh mắt bà có một niềm bình an sâu xa.
Lạy Chúa, xin cho con biết sống theo con đường Tám Mối Phúc để được Chúa chúc phúc. A-men.
Jos. Nguyễn
====================
THUA ĐỂ THẮNG, MẤT ĐỂ ĐƯỢC
Chuyện kể rằng: Phan-xi-cô xuất thân từ một gia đình quý tộc danh giá ở thành Át-si-si. Lúc còn thanh thiếu niên, ngài hay đi lễ muộn. Khi trưởng thành, trong một buổi lễ, tình cờ nghe cha quản xứ giảng về Tám mối Phúc Thật, Phan-xi-cô hết sức tâm đắc với câu nói của Chúa Giê-su: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5, 2). Từ hôm ấy trở đi, ngài luôn suy nghĩ xem mình phải sống thế nào để trở thành một người nghèo thực sự theo lời Chúa dạy? Rồi một ngày nọ, ngài đi đến quyết định sống cuộc đời từ bỏ mọi sự để hoàn toàn phó thác cuộc đời cho Chúa quan phòng. Ngài đã bán gia sản của cha mình và đem phân phát cho những người nghèo khổ bệnh tật. Hành động của Phan-xi-cô đến tai người cha, khiến ông nổi cơn giận kinh hoàng. Ông liền đến tịch thu tất cả những gì còn sót lại của Phan-xi-cô và tuyên bố từ mặt, không nhận ngài làm con nữa. Ngày hôm ấy, Phan-xi-cô đã can đảm bỏ lại tất cả quần áo, giày dép sang trọng để ra khỏi nhà với đôi bàn tay trắng. Trong nhật ký, ngài có viết: “Bây giờ tuy không còn có cha ở trần gian, nhưng tôi vẫn luôn có Cha Trên Trời hằng thương yêu tôi”. Từ ngày đó, ngài được hoàn toàn tự do đi theo lý tưởng đã chọn “từ bỏ tất cả mọi sự, trở nên nghèo khó vì Nước Trời”.
Quả thật, đây chính là nghịch lý của Ki-tô giáo: “thua để thắng, mất để được” mà chúng ta bắt gặp ngang qua bài Tin Mừng hôm nay (x. Mt 5, 1-12a) đề cập đến Tám mối Phúc Thật.
Thánh Phao-lô đã nghiệm ra và quả quyết: “…cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người” (1Cr 1, 25). Dĩ nhiên, khi chúng ta đặt Tám mối Phúc Thật theo lối suy nghĩ và tiêu chuẩn của xã hội trần thế, hoặc của con người, thì có lẽ chúng ta bị khinh miệt, chê bai, chứ chẳng thể nào là phúc thật! Thế nhưng, Tám mối Phúc Thật (Bát Phúc) chính là chuẩn mực của Thiên Chúa dành cho những ai dám chấp nhận ‘nghịch lý’ này: tâm hồn nghèo khó, hiền lành, sầu khổ, khao khát nên người công chính, xót thương người, tâm hồn trong sạch, xây dựng hoà bình, bị bách hại vì sống công chính (x. Mt 5, 3-10). Và Bát Phúc cũng được gọi là Hiến chương Nước Trời, nghĩa là hết thảy những ai khao khát được vào Nước Trời, đều hân hoan sống trọn Tám mối Phúc Thật ngay đời này.
Thánh Phan-xi-cô Át-si-si đã dám chịu mất tất cả để đạt được hạnh phúc thật. Thánh Ma-xi-li-a-nô Kol-bê đã hy sinh mạng sống cho người tử tù để đạt sự sống đời đời, hưởng phúc thật viên mãn. Thánh Đa-mi-en đã bỏ hết những tiện ích, tiện nghi trần thế, mà chăm lo cho người phong hủi đến cuối đời, hầu sống trọn Bát Phúc. Thánh Tê-rê-sa Cal-cút-ta đã dám bỏ sự an vị, cất bước lên đường đến Ấn Độ để khởi sự chặng đường chăm lo cho những người cùng khốn, những người thiếu vắng tình thương, những người đang hấp hối, v.v…cũng chỉ vì thánh nhân sống trọn vẹn Tám mối Phúc Thật! Còn rất nhiều thánh nam thánh nữ khác đã kết thúc cuộc hành trình lữ khách nơi trần gian này với tinh thần Bát Phúc, hầu được hưởng hạnh phúc đích thật viên mãn muôn đời.
Vì thế để đạt hạnh phúc này, chúng ta nên phân biệt hai loại hạnh phúc chính: hạnh phúc tự nhiên khả giác và hạnh phúc siêu nhiên tinh thần. Ai trong chúng ta đều rõ: hạnh phúc là một khát vọng tự nhiên nơi con người, muốn được thoả mãn các như cầu cả về thể xác lẫn tâm hồn. Về hạnh phúc tự nhiên như: được có nhiều tiền của, được chung sống với người mình yêu, được khen tặng, được thi đậu hay được cấp vi-sa nhập cảnh nước ngoài, được thăng tiến…, con người sẽ cảm thấy vui sướng khi được thoả mãn điều mình khát vọng. Tuy nhiên, loại hạnh phúc này thường không bền lâu, dần dần phai mờ theo thời gian, và có khi hạnh phúc hôm nay lại trở thành nguyên nhân gây ra bất hạnh sau đó. Về hạnh phúc siêu nhiên mà Tin Mừng đề cập là “Tám mối Phúc Thật”. Đây là những tiêu chuẩn cho hết thảy mọi người muốn được ơn cứu độ, muốn được vào hưởng hạnh phúc Nước Trời. Cụ thể, chúng ta hoan hỷ thực hành xuyên suốt trong cuộc sống Ki-tô giáo:
Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó: Người có tâm hồn nghèo khó là người không tham lam tiền tài, không tranh giành địa vị chức quyền, nhưng luôn sống đơn sơ, tín thác và khiêm nhường phục vụ noi gương Đức Giê-su, nên họ sẽ được ban thưởng Nước Trời.
Phúc thay ai hiền lành: Người hiền lành là người có lòng từ bi nhân ái, không cố tình làm hại ai, nhưng luôn biết nhẫn nhịn, chịu đựng những xúc phạm của tha nhân vì lòng mến Chúa, nên họ sẽ được Chúa bù đắp các thiệt thòi bằng hạnh phúc đất hứa Thiên Đàng.
Phúc thay ai sầu khổ: Người sầu khổ là người ý thức giá trị thanh luyện của đau khổ, nên sẵn sàng chịu đựng mọi gian nan gặp phải trong cuộc sống hằng ngày, nên họ sẽ được Chúa đoái thương ‘lau khô lệ rơi’ và được động viên an ủi bằng hạnh phúc Thiên Đàng.
Phúc thay ai khao khát nên người công chính: Người công chính luôn hướng thượng, muốn trở nên hoàn thiện noi gương Cha trên trời, nên họ sẽ được thỏa lòng mong ước nhờ tin vào Chúa Giê-su và ăn ở công minh, chính trực giống như Người.
Phúc thay ai xót thương người: Người biết xót thương luôn cảm thông chia sẻ niềm vui nỗi buồn với tha nhân như thánh Phao-lô dạy: “Vui với người vui, khóc với người khóc” (Rm 12, 15), nên họ sẽ được Chúa xót thương và ban ơn tha thứ trước tòa phán xét.
Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch: Người có tâm hồn trong sạch là người có nếp sống lành thánh trong tư tưởng, lời nói và hành động, nên đôi mắt tâm hồn của họ trở nên trong sáng để có thể nhìn thấy Chúa đang hiện thân nơi anh chị em, đặc biệt những ai đang đói khổ bất hạnh (x. Mt 25, 40), và sau này được “mặt giáp mặt” diện kiến với Chúa trên Thiên đàng (x. 1Cr 13, 12).
Phúc thay ai xây dựng hòa bình: Người xây dựng hòa bình luôn nhẫn nhịn, kiên trì vun xới tình huynh đệ, biết ứng xử, sống hòa thuận với tha nhân, nên họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa (x. Mt 5, 45) và trở nên môn đệ đích thật của Đức Giê-su (x. Ga 13, 35).
Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính: Người bị bách hại vì sống công chính là người can đảm sống đức tin, sống chứng nhân cho Đức Giê-su, nên bị ghen ghét, bắt đạo, cấm cánh, có thể bị giết chết thân xác, nhưng họ sẽ được Thiên Chúa thưởng ban ơn cứu độ là hạnh phúc Thiên đàng đời đời.
Sau hết, noi gương các Thánh nhân đã sống trọn vẹn Bát Phúc ngay ở đời này, chúng ta cùng nhau chung tay, chung lòng cất bước trên con đường nên Thánh qua việc đón nhận Tám mối Phúc Thật là kim chỉ nam của đời mình. Xin Chúa trợ lực cho mỗi người chúng ta. Amen!
Lm. Xuân Hy Vọng
=====================
HẠNH PHÚC THẬT
Hạnh phúc là khát vọng sâu xa nhất, nhưng cũng là điều khó nắm bắt nhất. Trong một thế giới quen đo lường giá trị bằng hiệu suất, thành tựu và mức độ được công nhận, hạnh phúc thường bị đồng hóa với cảm xúc dễ chịu hoặc với việc đạt được điều mình mong muốn. Nhưng cảm xúc thì mong manh, còn sự thỏa mãn ý chí vẫn xoay quanh cái tôi. Vì thế, con người có thể đạt được rất nhiều mà vẫn thấy trống rỗng.
Bài Tin Mừng hôm nay không định nghĩa về hạnh phúc, nhưng mở ra một con đường sống hạnh phúc. Trong bài giảng trên núi, Đức Giêsu công bố một nghịch lý căn bản: hạnh phúc thật không đến từ việc loại trừ thiếu thốn hay đau khổ, mà từ một sự biến đổi nội tâm.
1. Bài giảng trên núi – hiến chương của một não trạng mới
“Thấy đám đông, Đức Giêsu lên núi… Người mở miệng giảng dạy họ rằng…” (cc.1–2). Núi trong Kinh Thánh là nơi mặc khải, nơi Thiên Chúa bày tỏ ý định của Người. Như xưa Môsê nhận Lề Luật trên núi Sinai, nay Đức Giêsu công bố một “hiến chương” mới cho con người.
Ngài không khởi đầu bằng những mệnh lệnh phải làm gì, nhưng bằng những lời chúc phúc. Tám mối phúc không phải là những yêu sách luân lý, mà là sự công bố một thực tại đang hiện diện cho những ai bước vào lối sống của Nước Trời.
2. “Phúc” là gì? Chiều sâu của từ makarios
Từ “phúc” trong bản văn Hy Lạp là makarios, không phải là cảm giác toại nguyện nhất thời, cũng không phải là niềm vui lệ thuộc vào hoàn cảnh thuận lợi. Makarios diễn tả một trạng thái viên mãn nội tâm, một niềm vui bén rễ sâu trong con người, không bị lung lay bởi những biến động ngoại tại. Vì thế, Đức Giêsu có thể nói: “Phúc thay ai sầu khổ” (c.4), một mệnh đề nghe như nghịch lý, nhưng đó lại là chiều sâu của một tâm thế vững vàng, dù gặp phải những gian nan trong cuộc sống.
3. Hạnh phúc đích thực của Tin Mừng
Hạnh phúc thường tình của con người gắn liền với những điều kiện bên ngoài: thành công, tài sản, vị thế xã hội, hay sự công nhận của người khác. Nhưng khi các điều kiện ấy đổi thay, hạnh phúc cũng tan biến. Ngược lại, Đức Giêsu khẳng định: “Niềm vui của anh em, không ai lấy mất được” (c.22). Hạnh phúc Người ban không phát xuất từ việc chiếm hữu, nhưng từ mối tương quan sống động với Thiên Chúa.
4. Tám mối phúc – tám thái độ của con người tự do
“Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó” (c.3): là người không cậy dựa vào của cải hay quyền thế, nhưng đặt nền tảng đời mình nơi Thiên Chúa.
“Phúc thay ai hiền lành” (c.4). Hiền lành không phải là yếu đuối, nhưng là sức mạnh đã được điều phục. Đó là người đã làm chủ bản năng và phản xạ, nên không để cơn nóng giận chi phối hành động.
“Phúc thay ai sầu khổ” (c.5). Đó là người dám đón nhận những đắng cay của đời sống mà không khép lòng lại. Chính nơi nỗi đau được sống trong niềm tin, con người mở ra cho sự an ủi của Thiên Chúa.
“Phúc thay ai khát khao nên người công chính” (c.6). Đây là sự thao thức thiêng liêng của người không bằng lòng với sự tầm thường, nhưng luôn ước mong đời mình được biến đổi và nên giống Chúa hơn.
“Phúc thay ai xót thương người” (c.7). Lòng thương xót không dừng lại ở cảm xúc, nhưng trở thành chọn lựa sống: dám chia sẻ, dám cúi xuống, dám mang lấy gánh nặng của người khác.
“Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch” (c.8). Trong sạch trước hết là sự nhất quán nội tâm. Người ấy sống ngay thẳng, không hai lòng, và hành động với ý hướng trong sáng.
“Phúc thay ai xây dựng hòa bình” (c.9). Xây dựng hòa bình không chỉ là tránh xung đột, nhưng là tạo nên những mối tương quan lành mạnh, nơi sự sống của người khác được tôn trọng và lớn lên.
“Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính” (c.10). Đây là mối phúc của sự trung thành. Người ấy chấp nhận thiệt thòi để không phản bội chân lý và căn tính Kitô hữu của mình.
5. Ngọc trong đá, sen trong bùn – linh đạo của thực tại
Tám mối phúc cho thấy một quy luật thiêng liêng: hạnh phúc không nằm ngoài đời sống, nhưng được kết tinh ngay trong đó. Ngọc không có ngoài đá, sen không mọc ngoài bùn. Cũng vậy, hạnh phúc Kitô giáo không phát sinh từ việc loại trừ những giới hạn của phận người, nhưng từ cách ta sống những giới hạn ấy bằng tình yêu. Không phải tránh được bùn mới là hạnh phúc, nhưng là để bùn không làm vẩn đục trái tim.
Vì thế, Tám mối phúc không phải là một bảng tiêu chuẩn để so đo, nhưng là lời mời gọi đào luyện trái tim. Ai khép lòng mình lại để giữ hạnh phúc riêng, cuối cùng sẽ đánh mất; ai mở lòng để hiến trao, người ấy đã bước vào hạnh phúc thật.
Hạnh phúc Tin Mừng không phô trương, nhưng sâu lắng và bền bỉ. Đó là hạnh phúc của người đã tìm được điểm tựa vững chắc nhất cho đời mình: sống trong Thiên Chúa, và vì Thiên Chúa, cho mọi người.
Cầu nguyện
Lạy Chúa!
Con vẫn luôn đi tìm hạnh phúc,
bằng cách sở hữu cho thật nhiều,
có được những điều mà con muốn,
thỏa mãn những cái mà con ham,
nhưng rồi đâu phải như con tưởng.
Hạnh phúc không phải những gì con có,
như sức khỏe tiền tài hay danh lợi,
mà có thể những gì con không có,
và cũng chẳng bao giờ cần phải có.
Hạnh phúc đích thực nằm ở trong tâm,
rất sâu xa và bền vững thâm trầm,
nhưng bị ngăn chặn qua nhiều tầng lớp,
của ham muốn tham lam và ích kỷ...
Nghe Lời Chúa cho con niềm xác tín:
hạnh phúc là tâm thái biết cho đi,
chứ không phải những gì con chiếm đoạt,
là buông ra không khư khư nắm giữ.
Xin cho con trở về với lòng mình,
để khơi nguồn hạnh phúc tự thâm tâm,
trong cách sống giản dị không cầu kỳ,
không than trách không so bì ai khác.
Hạnh phúc khi con sống luôn bên Chúa,
không buồn thương hay lo sợ điều gì,
chẳng mong cầu hay mê mẩn điều chi,
chỉ biết luôn thực thi theo Thánh ý.
Xin cho con giữ tâm hồn trong sạch,
để hạnh phúc luôn tươi mới trong lành,
để cuối cùng không ai ngoài chính Chúa,
là suối nguồn hạnh phúc của đời con. Amen.
Lm. Thái Nguyên
=====================
ĐỂ HẠNH PHÚC THỰC SỰ (Mt 5, 11-12)
Hạnh phúc là từ được người ta nói nhiều đến trong xã hội. Trên mạng xã hội, người ta khoe hạnh phúc. Trong quảng cáo, người ta bán hạnh phúc. Ngoài xã hội, người ta chạy đua để tìm hạnh phúc. Thế nhưng, nghịch lý thay, cũng chưa bao giờ con người lo âu, trầm cảm, bất an, bất hạnh như thời đại chúng ta đang sống.
Giữa một thế giới đầy biến động: kinh tế khó khăn, chiến tranh, dịch bệnh, khủng hoảng gia đình, người trẻ mất phương hướng, người lớn tuổi cô đơn… Câu hỏi được đặt ra: Hạnh phúc thật sự nằm ở đâu?
Hạnh phúc là điều mà ai trong chúng ta cũng khao khát. Có người tìm hạnh phúc trong tiền bạc, thành công, quyền lực, hưởng thụ, danh tiếng… Thế nhưng, càng tìm, nhiều khi lại càng thấy trống rỗng. Trong Chúa Nhật IV Thường Niên hôm nay, Chúa Giê-su trao cho chúng ta chìa khóa hạnh phúc đích thực, không theo kiểu thế gian, nhưng theo cái nhìn của Thiên Chúa.
Hạnh phúc theo cái nhìn của Thiên Chúa
Bài đọc I, trích sách ngôn sứ Xô-phô-ni-a, mời gọi: “Hãy tìm Chúa, hỡi tất cả các người hiền lành trong nước… hãy tìm công lý, hãy tìm sự khiêm nhường” (Xp 2,3).
Lời trên chạm đến hoàn cảnh của rất nhiều người: những gia đình chật vật vì cơm áo gạo tiền, những người lao động bấp bênh, những người cảm thấy mình nhỏ bé, thua thiệt, không tiếng nói trong xã hội. Thiên Chúa không chọn kẻ quyền thế, nhưng chọn những người khiêm nhường, người đặt trọn niềm tin cậy nơi Chúa. Hạnh phúc không hệ tại ở việc “có nhiều”, mà ở chỗ có Chúa, thuộc trọn về Chúa.
Lời Chúa trong Thánh vịnh đáp ca khẳng định: “Phúc thay người được Chúa Trời nhà Gia-cóp phù hộ, và cậy trông Chúa, Thiên Chúa họ thờ.” (Tv 146).
Thánh Phao-lô trong bài đọc II nhắc chúng ta nhớ lại ơn gọi của mình: “Vì (trong anh em) không có mấy người khôn ngoan theo xác thịt, không có mấy người quyền thế, không có mấy người sang trọng …điều mà thế gian cho là yếu hèn, thì Thiên Chúa đã chọn” (1 Cr 1,26–28). Để rồi kết luận: “Ai tự phụ, thì hãy tự phụ trong Chúa” (1 Cr 1,31).
Hiến chương hạnh phúc của người Ki-tô hữu
Tin Mừng theo thánh Mát-thêu thuật lại việc Chúa Giê-su lên núi và công bố Tám Mối Phúc (Mt 5,1–12). Các giáo phụ gọi đây là “Hiến chương Nước Trời”, hay “con đường dẫn tới hạnh phúc đích thực”.
Điều gây sốc là: những người được Chúa Giê-su tuyên bố “phúc” lại chính là những người mà thế gian thường cho là bất hạnh: nghèo khó, hiền lành, sầu khổ, bị bách hại.
Thánh Au-gút-ti-nô nói: “Tám Mối Phúc là những nấc thang đưa con người lên tới hạnh phúc trọn vẹn trong Thiên Chúa.” Chúa Giê-su không phủ nhận nỗi đau của họ, nhưng Ngài mở ra một chân trời mới, nơi đau khổ không phải là dấu chấm hết, mà là con đường dẫn tới sự sống.
Muốn hạnh phúc theo Chúa Giê-su thì…
Muốn hạnh phúc theo Chúa Giê-su thì trước hết phải biết nghèo khó trong tâm hồn. “Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,3). Nghèo khó không chỉ là thiếu thốn vật chất, mà là không bám víu, không đặt an ninh đời mình nơi tiền bạc, quyền lực, hay cái tôi. Đức cố Giáo Hoàng Phan-xi-cô lúc sinh thời từng nói: “Nghèo trong tinh thần là để cho Thiên Chúa chiếm chỗ trung tâm, chứ không phải cái tôi của mình.”
Muốn hạnh phúc theo Chúa Giê-su thì phải sống hiền lành và xót thương.“Phúc cho những ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Nước làm cơ nghiệp” (Mt 5,5). Hiền lành không phải là yếu đuối, nhưng là sức mạnh của tình yêu, biết kiềm chế bạo lực, biết tha thứ. Trong một thế giới đầy đối đầu và hận thù, người hiền lành chính là chứng nhân của Nước Trời.
Muốn hạnh phúc theo Chúa Giê-su thì phải chấp nhận khát khao sự công chính và sẵn sàng chịu thiệt. “Phúc cho ai bị bách hại vì lẽ công chính” (Mt 5,10). Theo Chúa không hứa hẹn cuộc sống dễ dàng, nhưng hứa ban ý nghĩa, niềm hy vọng và sự sống đời đời.
Tóm lại: Tám Mối Phúc không phải là những khẩu hiệu đẹp treo trên tường, mà là con đường sống, là chìa khóa hạnh phúc mà Chúa Giê-su trao vào tay mỗi người chúng ta. Hạnh phúc Ki-tô giáo không phải là tránh né đau khổ, mà là sống đau khổ trong tình yêu và niềm tin.
Xin cho mỗi người chúng ta, giữa những lo toan của cuộc sống, biết quay về với lời Chúa hôm nay, để can đảm chọn con đường hẹp của Tin Mừng. Vì như thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II đã nói: “Chỉ nơi Thiên Chúa, con người mới tìm thấy hạnh phúc mà lòng mình khao khát.” Amen.
Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ
====================
UY QUYỀN ĐÍCH THỰC ĐẾN TỪ THIÊN CHÚA
Chúng ta đang sống trong một thế giới tràn ngập thông tin và những tiếng nói. Từ màn hình điện thoại, tivi, mạng xã hội cho đến những cuộc trò chuyện hàng ngày, chúng ta liên tục tiếp nhận vô số lời nói, ý kiến, lời dạy và những lời khuyên. Có những lời mang lại tri thức, có những lời đem đến niềm vui, nhưng cũng có không ít những lời gieo rắc hoang mang, chia rẽ và sự giả dối. Giữa muôn vàn tiếng nói đó, chúng ta khao khát, và có lẽ đôi khi là vô thức tìm kiếm, một tiếng nói có trọng lượng, một lời nói có uy quyền thật sự - thứ uy quyền không đến từ chức tước hay quyền lực trần thế, mà đến từ sự thật, từ chân lý và có khả năng biến đổi cuộc sống. Bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Nhật IV Thường Niên, tường thuật lại một ngày Sabát tại hội đường Caphácnaum, nơi Dân Chúa lần đầu tiên được chứng kiến một uy quyền như thế nơi Đức Giêsu Kitô. Đó là uy quyền trong lời giảng dạy và uy quyền trên cả thế lực của sự dữ.
Thánh sử Máccô đã khắc họa một khung cảnh rất đỗi quen thuộc với người Do Thái: ngày Sabát, nơi hội đường. Đây là trung tâm của đời sống tôn giáo và xã hội, là nơi Dân Chúa quy tụ để lắng nghe Lời Chúa, để cầu nguyện và học hỏi lề luật. Chính tại nơi trang nghiêm và quen thuộc này, sự xuất hiện và lời giảng dạy của Đức Giêsu đã tạo nên một sự khuấy động, một cơn địa chấn trong tâm hồn những người có mặt. Thánh sử viết: “Người vào hội đường và giảng dạy. Thiên hạ sửng sốt về lời giảng dạy của Người, vì Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư.” Sự sửng sốt, kinh ngạc này không phải là một phản ứng cảm tính thoáng qua. Nó bắt nguồn từ một sự khác biệt sâu sắc, một sự tương phản rõ rệt giữa Đức Giêsu và các kinh sư, những người vẫn được xem là bậc thầy về Kinh Thánh.
Vậy, sự khác biệt đó là gì? Uy quyền của các kinh sư đến từ đâu? Uy quyền của họ đến từ sự kế thừa, từ việc trích dẫn. Họ giảng dạy bằng cách dẫn lại lời của các rabbi đi trước, các bậc thầy trong truyền thống. Lời của họ là một sự lặp lại, một sự diễn giải các luật lệ đã được đóng khung. Họ là những người lưu giữ và truyền đạt kiến thức, nhưng bản thân họ không phải là nguồn của kiến thức đó. Lời giảng của họ có thể đúng, có thể uyên bác, nhưng nó thiếu đi sức sống, thiếu đi cái hồn của chân lý, bởi nó là lời của người khác, không phải lời của chính họ. Nó giống như việc một người đọc lại một bài diễn văn hùng hồn của một vĩ nhân; người đọc có thể truyền cảm, nhưng sức mạnh đích thực vẫn thuộc về người đã viết ra nó.
Trong khi đó, uy quyền của Đức Giêsu lại hoàn toàn khác biệt. Người không cần trích dẫn một ai khác ngoài chính mình. Khi Người nói, Người không bắt đầu bằng “Thầy Rabbi X đã dạy rằng…”, mà Người khẳng định một cách dứt khoát: “Tôi bảo thật các ông…”. Lời của Người không phải là sự diễn giải luật, mà là chính Lời ban bố luật. Lời của Người không chỉ là kiến thức về Thiên Chúa, mà chính là Lời của Thiên Chúa. Người không nói về Chân Lý như một đối tượng bên ngoài, mà chính Người là Chân Lý. Sự đồng nhất giữa con người Người và lời giảng dạy của Người đã tạo nên một sức mạnh vô song. Người ta không chỉ nghe lời Người, mà còn cảm nhận được chính con người Người, cảm nhận được sự thánh thiện, sự thật và tình yêu phát xuất từ Người. Uy quyền của Người không phải là uy quyền áp đặt từ bên ngoài, mà là uy quyền của sự thật chinh phục từ bên trong. Nó không chỉ tác động đến lý trí mà còn chạm đến cõi lòng, đánh thức lương tâm và mời gọi một sự biến đổi tận căn.
Uy quyền này càng được thể hiện một cách kịch tính và mạnh mẽ hơn khi đối diện với thế lực sự dữ. Giữa lúc mọi người còn đang kinh ngạc về lời giảng dạy của Người, thì một tiếng nói khác xen vào, một tiếng nói đầy xáo trộn và thù địch. Đó là tiếng của một người bị thần ô uế ám, la lên: “Ông Giêsu Nadarét, chuyện chúng tôi can gì đến ông mà ông đến tiêu diệt chúng tôi? Tôi biết ông là ai rồi: ông là Đấng Thánh của Thiên Chúa!”. Đây là một khoảnh khắc đầy nghịch lý. Trong khi những người thông thái, những kinh sư còn đang dò xét, phân tích, thì chính thế lực của bóng tối, qua miệng lưỡi của một người bị quỷ ám, lại là kẻ đầu tiên tuyên xưng căn tính thật của Đức Giêsu một cách công khai. Ma quỷ, trong sự đối đầu, đã nhận ra ai là chủ của mình. Nó không gọi Người là "thầy rabbi" hay "nhà giảng thuyết", mà gọi thẳng tên Người và tuyên xưng danh hiệu cao quý nhất: "Đấng Thánh của Thiên Chúa".
Sự nhận biết này không phải là một hành vi thờ phượng, mà là một lời thú nhận trong sợ hãi. Ma quỷ biết rằng sự hiện diện của Đấng Tuyệt Đối Thánh Khiết là một mối đe dọa cho sự tồn tại của nó. Ánh sáng và bóng tối không thể cùng tồn tại. Sự thánh thiện và sự ô uế không thể hòa hợp. Sự hiện diện của Đức Giêsu tại hội đường Caphácnaum không chỉ là một chuyến viếng thăm, mà là một cuộc xâm chiếm, một cuộc khai mở Nước Trời ngay tại nơi sự dữ đang ẩn náu. Phản ứng của Đức Giêsu trước lời tuyên xưng của ma quỷ đã cho thấy rõ hơn nữa uy quyền của Người. Người không cần đối thoại, không cần tranh luận. Người ra lệnh một cách dứt khoát, ngắn gọn và đầy quyền năng: “Câm đi, hãy xuất khỏi người này!”.
Chỉ một mệnh lệnh! Không cần một nghi thức phức tạp, không cần những lời cầu khẩn dài dòng. Lời của Người chính là hành động. Lời của Người có sức mạnh sáng tạo và tái tạo. Nếu như trong sách Sáng Thế, Thiên Chúa phán "Hãy có ánh sáng" và liền có ánh sáng, thì ở đây, Đức Giêsu phán "Hãy xuất ra" và thần ô uế phải tuân phục. Nó vật vã người đàn ông, thét lên một tiếng và xuất ra. Cảnh tượng này khiến dân chúng đi từ kinh ngạc này đến kinh ngạc khác. Họ không chỉ sửng sốt nữa, mà còn kinh hãi và tự hỏi nhau: “Thế này là gì? Một giáo lý thì mới mẻ, người dạy lại có thẩm quyền. Ông ấy ra lệnh cho cả các thần ô uế và chúng phải tuân lệnh”. Họ đã nhận ra rằng, uy quyền của Đức Giêsu không chỉ dừng lại ở lý thuyết, ở lời giảng dạy, mà còn được chứng thực bằng hành động cụ thể. Lời nói và việc làm của Người là một. Lời của Người có sức mạnh giải phóng con người khỏi xiềng xích của sự dữ, trả lại cho họ tự do và phẩm giá.
Câu chuyện Tin Mừng hôm nay không chỉ là một sự kiện lịch sử đã qua, mà còn là một lời mời gọi sống động cho mỗi người chúng ta hôm nay. Chúng ta cũng đang ngồi trong "hội đường" của cuộc đời mình, lắng nghe nhiều lời giảng dạy. Có những lời dạy của thế gian, của các "kinh sư" thời hiện đại, những người dạy chúng ta về thành công, về hưởng thụ, về chủ nghĩa cá nhân, về một cuộc sống không có Thiên Chúa. Những lời dạy đó có thể rất hấp dẫn, rất hợp lý theo logic của con người, nhưng chúng có thật sự mang lại sự bình an và tự do đích thực không? Hay chúng chỉ đang ngấm ngầm xiềng xích chúng ta vào những đam mê, những lo âu và sự ích kỷ?
Bên cạnh đó, vẫn vang lên Lời của Đức Giêsu, qua Kinh Thánh, qua giáo huấn của Hội Thánh, qua tiếng nói của lương tâm. Lời của Người có thể không luôn dễ nghe. Lời của Người đòi hỏi chúng ta phải thay đổi, phải từ bỏ, phải hoán cải. Lời của Người có thể làm chúng ta "sửng sốt" vì nó đi ngược lại với những gì thế gian ca tụng. Nhưng đó chính là Lời có uy quyền, Lời duy nhất có khả năng chữa lành những vết thương sâu thẳm trong tâm hồn chúng ta. Đó là Lời duy nhất có sức mạnh xua trừ những "thần ô uế" của thời đại: thần ghen ghét, thần dâm ô, thần tham lam, thần kiêu ngạo, thần nghiện ngập, thần cô đơn và tuyệt vọng.
Trong mỗi người chúng ta, đôi khi cũng có tiếng nói của "thần ô uế". Đó là tiếng nói của sự yếu đuối, của tội lỗi, của những ký ức đau buồn, của những mặc cảm tội lỗi. Nó hét lên trong tâm hồn chúng ta, khiến chúng ta cảm thấy xa cách Chúa, cảm thấy mình không xứng đáng. Nó nói rằng: "Chuyện của tôi can gì đến Chúa? Chúa là Đấng Thánh, còn tôi thì tội lỗi". Những lúc như vậy, hãy nhớ rằng Đức Giêsu đã đến không phải để tiêu diệt chúng ta, mà để tiêu diệt sự dữ đang giam hãm chúng ta. Hãy để cho Người cất lên Lời quyền năng của Người trong tâm hồn bạn: "Câm đi, hãy xuất khỏi người này!". Hãy để cho Lời Người xua tan đi những bóng tối, chữa lành những tổn thương và trả lại cho bạn sự bình an và tự do của con cái Thiên Chúa.
Để làm được điều đó, chúng ta cần phải có thái độ của dân chúng trong hội đường Caphácnaum ngày xưa: thái độ biết "sửng sốt". Đừng để cho sự quen thuộc làm chúng ta chai lì trước Lời Chúa. Mỗi khi chúng ta nghe Tin Mừng, hãy xin cho mình có được một con tim rộng mở để nhận ra sự mới mẻ và quyền năng trong đó. Hãy tự hỏi: Lời Chúa hôm nay đang thách đố tôi điều gì? Lời Chúa đang mời gọi tôi thay đổi điểm nào trong cuộc sống? Lời Chúa đang xua trừ "thần ô uế" nào ra khỏi con người tôi?
Hơn nữa, chúng ta không chỉ là người nghe, mà còn được mời gọi trở thành người làm chứng cho uy quyền của Chúa. Cuộc sống của chúng ta phải trở thành một lời minh chứng cho sức mạnh biến đổi của Tin Mừng. Khi chúng ta sống yêu thương, tha thứ, khiêm nhường và phục vụ, chúng ta đang cho thế gian thấy rằng Lời Chúa không phải là một lý thuyết suông, mà là một sức mạnh có thật. Khi chúng ta can đảm chống lại sự ác, sự bất công, chúng ta đang tiếp nối sứ mạng của Đức Giêsu, ra lệnh cho "thần ô uế" của sự ích kỷ và hận thù phải câm lặng và rút lui.
Trong bài đọc thứ nhất trích từ sách Đệ Nhị Luật, Môsê đã nói với dân Israel về một lời hứa của Thiên Chúa: "Từ giữa anh em, trong số các anh em của anh, ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh, sẽ cho xuất hiện một ngôn sứ như tôi, anh em hãy nghe vị ấy". Đức Giêsu chính là vị Ngôn Sứ vĩ đại đó, vị Ngôn Sứ mà chính Thiên Chúa đã sai đến và ban cho lời của Ngài. Người không chỉ nói lời của Thiên Chúa, mà Người chính là Ngôi Lời của Thiên Chúa làm người. Vì thế, lời Người có một uy quyền tuyệt đối. Nghe theo lời Người là nghe theo chính Thiên Chúa. Từ chối lời Người là từ chối chính Thiên Chúa.
Thánh Lễ mà chúng ta đang cử hành chính là nơi chúng ta được tiếp xúc một cách cụ thể và sống động nhất với uy quyền của Đức Giêsu. Trong phần Phụng vụ Lời Chúa, Người đang giảng dạy chúng ta "như Đấng có thẩm quyền". Trong phần Phụng vụ Thánh Thể, cũng chính Lời quyền năng của Người, qua vị linh mục, sẽ biến bánh và rượu trở nên Mình và Máu Thánh Người. Đây là hành động quyền năng cao cả nhất, nơi Lời Chúa không chỉ chữa lành, mà còn ban cho chúng ta chính sự sống thần linh của Người.
Xin Chúa cho mỗi người chúng ta, khi tham dự Thánh Lễ hôm nay và khi trở về với cuộc sống đời thường, luôn biết nhận ra và tuân phục uy quyền yêu thương của Chúa Giêsu. Xin cho chúng ta can đảm để Lời Người chất vấn, thanh tẩy và biến đổi chúng ta. Xin cho Lời quyền năng của Người xua trừ mọi thế lực của sự dữ ra khỏi tâm hồn chúng ta, gia đình chúng ta và xã hội chúng ta, để Nước Chúa được trị đến và danh Chúa được cả sáng muôn đời. Amen.
Lm. Anmai, CSsR
===================
HẠNH PHÚC TRONG CHÚA
Ở đời người ta có nhiều nhận xét về hạnh phúc. Một cô nàng lấy được chồng giàu, con cái khỏe mạnh, có nhiều tiền tha hồ mua sắm đủ thứ tiện nghi thoải mái, mọi nhu cầu được thỏa mãn, ấy là hạnh phúc. Một anh chàng có vợ đẹp con khôn, nghề nghiệp ổn định là giấc mơ của nhiều người. Khao khát tìm kiếm danh vọng, địa vị đến khi đạt được mong muốn là niềm hạnh phúc cho những người dầy công cố gắng bấy lâu…
Còn trong Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu lại quảng bá tám mối phúc nghe có vẻ ngược đời:
-“Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó…” Có nhiều thứ nghèo: nghèo tiền của vật chất, nghèo sức, thấp cổ bé miệng, số phận hẩm hiu, ít học… Bình thường người khó khăn thiếu thốn sẽ không còn cậy vào sức riêng, mà đặt niềm trông cậy nơi Chúa. Người giàu có, tiện nghi đầy đủ thường thấy an thân không cần đến Chúa, chỉ tìm hưởng thụ và chẳng bao giờ thấy thỏa mãn đủ. Đức Giêsu không cổ động lối sống nghèo nàn đến độ không có những cái căn bản ổn định, để phát triển tinh thần. Ngài nhấn mạnh người có tâm hồn nghèo khó là người không bám víu nặng lòng với của cải vật chất đang có, không hưởng thụ ích kỷ mà sẵn sàng sẻ chia; hay khó nghèo mà không than van, nhưng biết tin tưởng cậy trông vào Chúa quan phòng, họ sẽ được hạnh phúc vì luôn có Chúa hiện diện yêu thương chăm sóc.
- “Phúc thay ai hiền lành…”. Người hiền hòa thì dễ thương dễ mến, họ nên giống Chúa Giêsu (hiền lành và khiêm nhường). Trong Chúa họ luôn bao dung, từ bỏ tự ái, sẵn sàng cảm thông tha thứ dù bị thiệt thòi oan ức, không tức giận phẫn nộ với ai. Có Đất Hứa làm gia nghiệp rồi thì họ chẳng cần tranh giành, ganh đua, so sánh hơn thiệt. Tâm tư họ luôn vui vẻ bình an hạnh phúc.
- “Phúc thay ai sầu khổ…” sẽ được Thiên Chúa an ủi. Người chịu đau khổ thử thách sẽ được Chúa nâng dậy, ủi an. Họ vẫn tin tưởng vào lời Chúa hứa, Ngài sẽ biến nỗi buồn của họ trở thành niềm vui. Bởi vì chính Ngài sẽ lau sạch nước mắt họ.
- “Phúc thay ai khát khao nên người công chính…” Người coi thường sự công chính sẽ không lo đến, không bỏ công tập luyện nhân đức. Người khao khát nên công chính luôn tìm kiếm để học biết và dấn thân tới trọn lành. Được Thiên Chúa cho thỏa lòng rồi thì sẽ sống sự công chính của Chúa.
-“Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.” Khuôn vàng thước ngọc là đây, ai không biết xót thương người khác, làm sao dám xin lòng thương xót Chúa cho mình? Còn người có lòng thương xót sẽ chạnh lòng thương, giúp người thiếu thốn đau khổ, cảm thông, quảng đại cho đi, nhân từ tha thứ, chia vui sẻ buồn với người anh em, chắc chắn họ sẽ được ở trong đại dương thương xót của Chúa.
-“Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch…” Trí sạch thì tâm an. Con tim trong sạch không nuôi hận thù, không chất chứa đam mê hay đủ thứ hằm bà lằng, trong sạch từ đáy lòng, không mong ước điều bất chính. “Con mắt tâm hồn” sạch sẽ đơn sơ, sẽ “nhìn thấy” Thiên Chúa rõ ràng, những thứ khác khó lọt vào được.
-“Phúc thay ai xây dựng hoà bình…” Người sống trong hòa bình, trong tình yêu Chúa và khiêm nhường nhịn nhục thứ tha, không tìm trả đũa, không chia rẽ bất thuận, sẵn sàng bắt tay người không ưa mình, sống hòa hợp trong mọi khác biệt, biết biến thù thành bạn, chắc chắn sẽ là “con nhà Chúa” rồi.
- “Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính…” Sống công chính thì dễ bị bách hại. Sống trong Chúa thì hạnh phúc nên khi bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa vẫn vui lòng nhẫn nại, sẵn sàng chịu đựng. Có Hạnh Phúc đích thực rồi thì thấy cái giá phải trả quá rẻ!
Các thánh đang tận hưởng Hạnh Phúc sung mãn tràn đầy là chính Chúa, sau khi đã sống các mối phúc mà Đức Giêsu đã rao giảng.
Chúa ơi! chỉ một mình Chúa mới lấp đầy khao khát hạnh phúc của chúng con. Tiện nghi vật chất không phải là đích điểm cuộc đời. Hạnh phúc của chúng con là chính Chúa. Chúng con chỉ bất hạnh khi xa rời Chúa mà thôi. Xin cho chúng con luôn tìm gặp và được sống hạnh phúc sung mãn tràn đầy trong Chúa, để dù sống giữa những khó khăn thiếu thốn, sầu khổ gian truân, chúng con vẫn đang tận hưởng hạnh phúc ngọt ngào trong Chúa, ngay hôm nay và mãi mãi.
Én Nhỏ
===================
KHE HỞ
“Bấy giờ Người lên tiếng dạy họ. Phúc thay ai…!”.
“Hạnh phúc không phải là phần thưởng cho nhân đức, nhưng là sự tham dự vào chính sự sống của Thiên Chúa!” - Von Balthasar.
Kính thưa Anh Chị em,
Lời Chúa hôm nay cho thấy, hạnh phúc không là phần thưởng cho người xứng đáng, nhưng là lối mở để con người được dự phần vào chính sự sống của Thiên Chúa. Mỗi Mối Phúc không phải là một huy chương, nhưng là một ‘khe hở’ cho ân sủng len vào.
Chúng ta nghĩ hạnh phúc khi mọi sự đầy đủ; Chúa Giêsu lại nói, hạnh phúc bắt đầu nơi thiếu thốn. Nghèo khó, hiền lành, sầu khổ, đói khát công chính… không phải là thất bại, nhưng là những vết nứt mà qua đó, Thiên Chúa có chỗ chen vào. Sôphônia gọi đó là “những ai nghèo hèn trong xứ sở” - bài đọc một; Phaolô nói đó là những kẻ bé mọn được yêu thương, “những gì thế gian cho là hèn mạt” - bài đọc hai; Thánh Vịnh đáp ca xác quyết, Thiên Chúa đứng về phía những kẻ thấp hèn.
Không phải Thiên Chúa thiên vị sự yếu đuối, nhưng vì Ngài tìm thấy ở đó một khoảng mở. Bởi đó, thần học của Bát Phúc không ca ngợi sự khốn cùng, nhưng mặc khải một nguyên lý: Thiên Chúa thông ban chính mình cho ai biết mình cần Ngài! Vậy câu hỏi đặt ra là: chúng ta có thực sự cần Thiên Chúa không? Vấn đề không phải chúng ta mạnh đến đâu, nhưng chúng ta có khép kín không? Chúng ta có đang lấp đầy đời mình bằng thành công, an toàn, và cả những đạo đức tự mãn? Khi chúng ta khoác mã giáp kín mít, ân sủng bị đẩy ra; khi chấp nhận mình bé nhỏ, một ‘khe hở’ xuất hiện. “Bạn không thể vượt qua những gì bạn không thừa nhận!” - Iyanla Vanzant.
Nơi Chúa Kitô, chúng ta không chỉ thấy ‘tám khe hở’ của một đời sống nghèo, hiền lành, chịu bách hại; nhưng còn là một “Hữu Thể mở”. Ngài mở ra không chỉ những khoảng của thân phận, nhưng mở cả ý chí, trí khôn và trái tim cho Chúa Cha, Đấng sai Ngài. Sự vâng phục ấy không thu hẹp Ngài, nhưng làm cho Ngài trở thành nơi sự sống Thiên Chúa lưu chuyển tự do vào lịch sử nhân loại; qua đó, Ngài mở trọn chính mình cho con người - chạm đến, chữa lành, tha thứ, trao ban và hiến dâng. Đức Kitô bị đóng đinh tiết lộ một Thiên Chúa mở toang ra vì tình yêu! “Trái tim Ngài là một đại dương vô tận của việc trao ban chính mình!” - Nicholas Afanasiev.
Anh Chị em,
Nếu hạnh phúc là được tham dự vào sự sống Ba Ngôi, thì Bát Phúc quả là những hình thái của sự hiệp thông ấy. Nghèo khó là hiệp thông với sự tự huỷ của Chúa Con; hiền lành là hiệp thông với sự vâng phục của Ngài; sầu khổ là hiệp thông với trái tim biết đau của Thiên Chúa; chịu bách hại là hiệp thông với tình yêu Ngài bị khước từ. Như vậy, mỗi Mối Phúc không chỉ nói về một thái độ luân lý, nhưng về một sự dự phần vào chính đời sống của Chúa Kitô - Đấng không chỉ tỏ cho chúng ta con đường đến với Chúa Cha, nhưng Ngài là Đường, là Sự Sống của Thiên Chúa - một Ơn Cứu Độ mang hình hài!
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, giữa thành công, xin giữ con bé nhỏ; giữa tổn thương, xin giữ con hiền lành; giữa khước từ, xin giữ con ở lại trong tình yêu!”, Amen.
Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)
====================