Thứ bảy, 07/03/2026

Chúa Nhật Tuần III - Mùa Chay - Năm A (Ga 4, 5-42)

Cập nhật lúc 20:00 07/03/2026
 

Tin Mừng: Ga 4, 5-42
Mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.
 
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.
5 Khi ấy, Đức Giê-su đến một thành xứ Sa-ma-ri, tên là Xy-kha, gần thửa đất ông Gia-cóp đã cho con là ông Giu-se. 6 Ở đấy, có giếng của ông Gia-cóp. Người đi đường mỏi mệt, nên ngồi ngay xuống bờ giếng. Lúc đó vào khoảng mười hai giờ trưa.
7 Có một người phụ nữ Sa-ma-ri đến lấy nước. Đức Giê-su nói với người ấy: “Chị cho tôi xin chút nước uống !” 8 Lúc đó, các môn đệ của Người đã vào thành mua thức ăn. 9 Người phụ nữ Sa-ma-ri liền nói: “Ông là người Do-thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Sa-ma-ri, cho ông nước uống sao ?” Quả thế, người Do-thái không được giao thiệp với người Sa-ma-ri. 10 Đức Giê-su trả lời: “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị: ‘Cho tôi chút nước uống’, thì hẳn chị đã xin, và người ấy đã ban cho chị nước hằng sống.” 11 Chị ấy nói: “Thưa ông, ông không có gầu, mà giếng lại sâu. Vậy ông lấy đâu ra nước hằng sống ? 12 Chẳng lẽ ông lớn hơn tổ phụ chúng tôi là Gia-cóp, người đã cho chúng tôi giếng này ? Chính Người đã uống nước giếng này, cả con cháu và đàn gia súc của Người cũng vậy.” 13 Đức Giê-su trả lời: “Ai uống nước này, sẽ lại khát. 14 Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.”
15 Người phụ nữ nói với Đức Giê-su: “Thưa ông, xin ông cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy nước.” 16 Người bảo chị ấy: “Chị hãy gọi chồng chị, rồi trở lại đây.” 17 Người phụ nữ đáp: “Tôi không có chồng.” Đức Giê-su bảo: “Chị nói: ‘Tôi không có chồng’ là phải, 18 vì chị đã năm đời chồng rồi, và người hiện đang sống với chị không phải là chồng chị. Chị đã nói đúng.” 19 Người phụ nữ nói với Người: “Thưa ông, tôi thấy ông thật là một ngôn sứ... 20 Cha ông chúng tôi đã thờ phượng Thiên Chúa trên núi này ; còn các ông lại bảo: Giê-ru-sa-lem mới chính là nơi phải thờ phượng Thiên Chúa.” 21 Đức Giê-su phán: “Này chị, hãy tin tôi: đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giê-ru-sa-lem. 22 Các người thờ Đấng các người không biết ; còn chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ phát xuất từ dân Do-thái. 23 Nhưng giờ đã đến -và chính là lúc này đây- giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế. 24 Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật.” 25 Người phụ nữ thưa: “Tôi biết Đấng Mê-si-a, gọi là Đức Ki-tô, sẽ đến. Khi Người đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự.” 26 Đức Giê-su nói: “Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây.”
27 Vừa lúc đó, các môn đệ trở về. Các ông ngạc nhiên vì thấy Người nói chuyện với một phụ nữ. Tuy thế, không ai dám hỏi: “Thầy cần gì vậy ?” Hoặc “Thầy nói gì với chị ấy ?” 28 Người phụ nữ để vò nước lại, vào thành và nói với người ta: 29 “Đến mà xem: có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Ông ấy không phải là Đấng Ki-tô sao ?” 30 Họ ra khỏi thành và đến gặp Người.
31 Trong khi đó, các môn đệ thưa với Người rằng: “Ráp-bi, xin mời Thầy dùng bữa.” 32 Người nói với các ông: “Thầy phải dùng một thứ lương thực mà anh em không biết.” 33 Các môn đệ mới hỏi nhau: “Đã có ai mang thức ăn đến cho Thầy rồi chăng ?” 34 Đức Giê-su nói với các ông: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người. 35 Nào anh em chẳng nói: Còn bốn tháng nữa mới đến mùa gặt ? Nhưng này, Thầy bảo anh em: Ngước mắt lên mà xem, đồng lúa đã chín vàng đang chờ ngày gặt hái ! 36 Ai gặt thì lãnh tiền công và thu hoa lợi để được sống muôn đời, và như thế, cả người gieo lẫn kẻ gặt đều hớn hở vui mừng. 37 Thật vậy, câu tục ngữ “kẻ này gieo, người kia gặt” quả là đúng ! 38 Thầy sai anh em đi gặt những gì chính anh em đã không phải vất vả làm ra. Người khác đã làm lụng vất vả ; còn anh em, anh em được vào hưởng kết quả công lao của họ.”
39 Có nhiều người Sa-ma-ri trong thành đó đã tin vào Đức Giê-su, vì lời người phụ nữ làm chứng: ông ấy nói với tôi mọi việc tôi đã làm. 40 Vậy, khi đến gặp Người, dân Sa-ma-ri xin Người ở lại với họ, và Người đã ở lại đó hai ngày. 41 Số người tin vì lời Đức Giê-su nói còn đông hơn nữa. 42 Họ bảo người phụ nữ: “Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Người thật là Đấng cứu độ trần gian.”

 
===================
SUY NIỆM: CƠN KHÁT SÂU THẲM VÀ MẠCH NƯỚC KHÔNG BAO GIỜ CẠN
Giữa trưa nắng gắt, Chúa Giê-su mỏi mệt vì đường xa nên ngồi bên giếng Gia-cóp. Người phụ nữ Sa-ma-ri đến lấy nước, có lẽ để tránh ánh nhìn và những lời xì xào về quá khứ phức tạp của mình. Và Chúa Giê-su mở lời: “Chị cho tôi xin chút nước uống.” Cuộc gặp gỡ đó đã làm thay đổi cả cuộc đời chị.
Một Thiên Chúa lại xin nước của con người. Một Đấng Thánh bước vào câu chuyện rối ren của một người phụ nữ bị coi thường. Chỉ điều đó thôi cũng đủ cho thấy: Chúa không sợ chạm vào những vết thương và đổ vỡ nơi chúng ta.
Cuộc đối thoại dần mở ra từ nước giếng đến “nước hằng sống”. Người phụ nữ nghĩ đến thứ nước giúp mình khỏi phải khát, khỏi phải ngày ngày ra giếng. Nhưng Chúa Giê-su nói đến một cơn khát sâu xa hơn: cơn khát được yêu thương, được đón nhận, được sống đúng với căn tính của mình. Bao đời chồng, bao lần tìm kiếm hạnh phúc, chị vẫn không nguôi khát.
Chúa Giê-su không lên án. Người giúp chị đối diện với sự thật đời mình, không phải để kết tội, nhưng để cứu độ. Và chính giây phút được chạm đến bằng lòng thương xót ấy, chị đã đổi thay. Từ một người lặng lẽ đến giếng nước, chị trở thành người loan báo Tin Mừng: “Đến mà xem!” Người từng tránh né cộng đoàn, nay lại dẫn cả thành đến gặp Chúa. Rao giảng Tin Mừng trước hết là chia sẻ kinh nghiệm gặp gỡ Chúa của chính mình.
Mùa Chay cũng là thời gian Chúa ngồi chờ ta bên “giếng nước” của đời mình: những mệt mỏi, những khát khao chưa được lấp đầy. Chúa không hứa cất khỏi ta mọi khó khăn, nhưng hứa ban cho ta một nguồn nước âm thầm chảy trong tâm hồn, giúp ta đủ sức bước tiếp và dẫn ta đến sự sống đời đời.
Khi những người Sa-ma-ri nói: “Giờ đây chúng tôi tin, không phải vì lời chị kể nữa, nhưng vì chính chúng tôi đã nghe”, đó là đích đến của mọi hành trình đức tin: gặp được chính Chúa, không chỉ qua lời người khác, nhưng bằng kinh nghiệm cá vị.
Lạy Chúa Giê-su, giữa những khát khao và trống rỗng của cuộc đời, xin cho chúng con gặp được Chúa. Xin giúp chúng con can đảm đối diện với cơn khát sâu thẳm của mình, để được Chúa chữa lành, đổi mới và sai đi làm chứng cho tình yêu của Người. Amen.
Glacies
======================
MẠCH NƯỚC VỌT LÊN
(CHÚA NHẬT TUẦN 3 MÙA CHAY NĂM A)
 
Qua Lời Tổng Nguyện của Chúa Nhật Tuần 3 Mùa Chay Năm A, các nhà phụng vụ muốn chúng ta ý thức rằng: Chúa là Đấng rất từ bi nhân hậu, Chúa đã từng chỉ dạy chúng ta cách chữa lành những vết thương tội lỗi: là ăn chay hãm mình, siêng năng cầu nguyện và chia cơm sẻ áo cho kẻ khó nghèo. Chúng ta nhận biết mình yếu hèn lầm lỗi, và hết lòng sám hối ăn năn, xin Chúa thương đoái nhìn chúng ta và đưa tay nâng đỡ.
 
Chúa thương đoái nhìn, và đưa tay nâng đỡ những ai hèn mọn, những khách ngoại kiều, cô  nhi, quả phụ, như trong bài đọc một Kinh Sách, trích sách Xuất Hành: Phải sống công chính, từ những nguồn gốc xa xưa nhất, các điều khoản làm thành luật Giao Ước cho ta thấy: Thiên Chúa quan tâm thế nào, để làm cho Dân Người thành một cộng đoàn anh em, sống tình bác ái chân thật. Tuy các Lề Luật đó đã hàm chứa những giá trị của Tin Mừng, nhưng, lịch sử cho thấy rằng Ítraen đã không luôn sống theo luật đó… Hãy bênh quyền lợi kẻ mồ côi, người hèn mọn, minh oan cho người khốn khổ, kẻ bần cùng. Hãy giải phóng ai hèn mọn, ai nghèo túng, cứu khỏi nanh vuốt bọn ác nhân. Thiên Chúa đã chọn những người nghèo khó trên đời này, để họ trở nên người giàu đức tin và thừa hưởng vương quốc.
 
Chúa thương đoái nhìn, và đưa tay nâng đỡ những ai tin tưởng, đến với Chúa để lãnh nhận Thần Khí, như trong bài đọc hai Kinh Sách, trích Khảo Luận của thánh Âutinh: Người phụ nữ Samari đến lấy nước… Đức Giêsu lớn tiếng nói rằng: “Ai khát, hãy đến với tôi, ai tin vào tôi, hãy đến mà uống. Từ lòng người ấy sẽ tuôn chảy những dòng nước đem lại sự sống.” Đức Giêsu muốn nói về Thần Khí mà những kẻ tin vào Người sẽ lãnh nhận. Ai uống nước tôi cho sẽ không bao giờ khát nữa.
 
Chúa thương đoái nhìn, và đưa tay nâng đỡ những ai mở lòng ra với những tác động của Thánh Thần, như trong bài đọc một Thánh Lễ, trích sách Xuất Hành: Cho chúng tôi nước uống đi. Trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 94: Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa! Người phán: “Các ngươi chớ cứng lòng.” Hãy đến đây ta reo hò mừng Chúa, tung hô Người là Núi Đá độ trì ta, vào trước Thánh Nhan dâng lời cảm tạ, cùng tung hô theo điệu hát cung đàn. Trong bài đọc hai Thánh Lễ, trích thư của thánh Phaolô tông đồ gửi tín hữu Rôma: Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng ta, nhờ Thánh Thần Người ban cho ta.
 
Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Lạy Chúa, Chúa thật là Đấng cứu độ trần gian, xin ban cho con nước hằng sống, để con không bao giờ khát nữa. Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu nói: Mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời. Ai tin và uống nước Chúa cho, thì, nơi người ấy, nước đó sẽ trở thành một mạch nước chảy vọt, mang lại sự sống đời đời. Chúng ta là Hội Thánh, là khách ngoại kiều, là người phụ nữ Samari ngoại giáo, nhưng, vì ta tin, nên, Đức Giêsu đã mở lối cho ta vào hưởng ân sủng của Thiên Chúa, trông cậy như thế, ta sẽ không phải thất vọng, vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho ta. Ước gì ta nghe tiếng Chúa, chớ cứng lòng, như tại Mêriba và Maxa, nơi tổ phụ ta đã từng thách thức Chúa. Ước gì mắt ta nhìn Chúa không biết mỏi, vì chính Người sẽ gỡ chân ta khỏi dò lưới. Thiên Chúa đã chọn những người nghèo khó, để, họ trở nên người giàu đức tin. Chúa khao khát ơn cứu độ cho chúng ta hơn cả chúng ta ước ao cho mình. Chúa cần, Chúa khát, Chúa xin một chút “nước đức tin” của ta, để, Chúa tuôn đổ nguồn nước ơn cứu độ cho ta. Chúng ta hãy cho Chúa chút “nước đức tin” bằng cách nghe theo lời Chúa dạy: là ăn chay hãm mình, siêng năng cầu nguyện và chia cơm sẻ áo cho kẻ khó nghèo, nhìn nhận mình yếu hèn lầm lỗi, và hết lòng sám hối ăn năn, để, Chúa thương đoái nhìn và đưa tay nâng đỡ chúng ta. Ước gì được như thế!

Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB

=====================

MỘT LẦN GẶP GỠ            
Hôm nay thánh Gioan kể rành rọt cuộc gặp gỡ giữa chị Sammari với Đức Giêsu bên bờ giếng thật là hay và “ấn tượng” để đời: Giờ cao điểm giữa trưa nắng cháy, Đức Giêsu mệt, đói bụng, khát nước… Đang tay không, giếng thì sâu, bỗng có một phụ nữ  gánh vò gầu ra. Đức Giêsu khẽ “ngỏ lời”: “Chị cho tôi xin chút nước uống!” (Ga 4,7b). Chị lạnh lùng đáp: “Ông là người Do Thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Samari, cho ông nước uống sao?” (Ga 4,9). “Quả thế, người Do Thái không được giao thiệp với người Samari” (kẻ thù truyền kiếp). Quên cả cơn khát thể xác Đức Giêsu bảo: “Nếu chị nhận ra ân huệ Chúa ban, và ai là người nói với chị… thì hẳn chị đã xin, và người ấy đã ban cho chị nước hằng sống”. (Ga 4,10). Chị trả lời: “ông không có gầu, mà giếng lại sâu. Vậy ông lấy đâu ra nước hằng sống? Chẳng lẽ ông lớn hơn tổ phụ chúng tôi...” (Ga 4,11-12a). Nhưng Đức Giêsu bảo: “Ai uống nước này, sẽ lại khát. Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.” (Ga 4, 13-14). Bắt đầu thấy “lợi” chị đổi ý: “Thưa ông, xin ông cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy nước.” (Ga 4,15). Hay quá! sau một hồi “lắng nghe” Chúa giải thích, chị biến đổi khác trước một trời một vực: người xa lạ thành “fan” hâm mộ, danh giới hận thù giữa người Samari và Do Thái bị phá bung, người sẵn nước thành kẻ ăn xin, người xấu thành đẹp, là người tội lỗi (năm đời chồng bất hợp pháp), bỗng chị trở thành sứ giả loan báo Tin Mừng. “Người phụ nữ để vò nước lại, vào thành và nói với người ta: ‘Đến mà xem: có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Ông ấy không phải là Đấng Kitô sao?” Họ ra khỏi thành và đến gặp Người.” (Ga 4, 28-30). Kết quả là một mùa vàng bội thu: “Có nhiều người Samari trong thành đó đã tin vào Đức Giêsu, vì lời người phụ nữ làm chứng: ông ấy nói với tôi mọi việc tôi đã làm. Vậy, khi đến gặp Người, dân Samari xin Người ở lại với họ, và Người đã ở lại đó hai ngày. Số người tin vì lời Đức Giêsu nói còn đông hơn nữa. Họ bảo người phụ nữ: không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Người thật là Đấng cứu độ trần gian.” (Ga 4, 39-42).
Chúa ơi! từ cái cơn khát giữa trưa (mười hai giờ) thật đáng nhớ bên bờ giếng hôm ấy, cho đến cơn khát Chúa kêu trên đỉnh cao Thập Tự: “Tôi khát!” (Ga 19,28). Và cho đến hôm nay Chúa vẫn “khát”, Chúa khao khát các linh hồn, Chúa khát con! Chúa chỉ no thỏa khi Thánh ý Chúa Cha được thực hiện: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy”. (Ga 4, 34). Lâu nay con ngu ngơ tưởng mình khập khễnh đi tìm Chúa, nào ngờ chính Chúa tìm con. Xin cho con biết chớp lấy cơ hội ngàn vàng để gặp, để nghe, để thân thưa với Chúa, để trong Chúa con được no thỏa nước hằng sống. Cùng Chúa con lạị “thi hành ý muốn của Cha” trong anh em, những người Chúa cho con gặp trong đời. Amen.

                                                                           Én Nhỏ

=====================

NỖI NIỀM KHÁT KHAO HẠNH PHÚC ĐÍCH THẬT

Ngày xưa, có một vị đạo sĩ kia dạy cho các môn sinh bí quyết để tìm tới hạnh phúc. Ông giảng dạy rất uyên bác và sâu sắc. Bỗng một thanh niên khá bặm trợn từ đâu đến tìm gặp ông và thách thức: ‘Thưa thầy, thầy giảng dạy rất thâm thúy, nhưng tôi chỉ xin hỏi thầy một câu: Trong tay tôi đang có một con chim, đố thầy biết nó là con chim còn sống hay đã chết?’ Câu hỏi ma mãnh của chàng trai nhằm gài bẫy vị đạo sĩ vì trong tay anh ta, con chim đang còn sống sẽ bị anh ta bóp chết, nếu vị đạo sĩ trả lời đó là con chim sống. Nhìn nét mặt quỷ quyệt của chàng trai ấy, vị đạo sĩ nói thẳng rằng: ‘Con chim này sống hay chết là do anh’. Ông bèn tiếp tục: ‘Tương tự, hạnh phúc có đến được với chúng ta hay không còn tùy thuộc vào tự do lựa chọn của mỗi người’.

Quả thật, nỗi khát khao đi tìm hạnh phúc đích thật luôn hiển hiện nơi sâu thẳm cõi lòng con người. Lắm lúc, chúng ta ước gì biến thành cánh chim đại bàng bay đi thật xa để tìm hạnh phúc đích thật của đời mình! Bao phen chúng ta như người phụ nữ Sa-ma-ri-a kia ra giếng múc nước hằng ngày, nhưng vẫn còn khát - không chỉ khát nước, mà khát khao hạnh phúc, khát khao được lấp đầy. Nỗi niềm khao khát này khiến biết bao người điên đảo, tốn giấy mực miêu tả về nó. Chẳng hạn, ông Scho-pen-nau-er, triết gia người Đức, đã khám phá ra và thốt lên rằng: ‘Những lạc thú mà thế gian bày ra cho con người cũng chỉ tựa như nắm cơm bố thí cho người hành khất, chỉ làm dịu cơn đói hôm nay, nhưng rồi ngày mai lại đói'. Tương tự, cha An-tô-ny đờ Mê-lô cũng từng nhận định: 'Khao khát thoả mãn dục vọng chẳng giải thoát chúng ta khỏi nó, nhưng tạo thêm dục vọng khác mãnh liệt hơn, để rồi cái vòng luẩn quẩn: khát khao - thoả mãn, thoả mãn - khát khao…cứ mãi tiếp diễn không chấm dứt’. Và như vậy, người ta phải chịu dày vò, thiêu đốt vì ngọn lửa khao khát trong tâm khảm mình.

Trước cuộc gặp gỡ không hẹn, không báo trước giữa Đức Giê-su (người Do thái) và người phụ nữ Sa-ma-ri-a (‘dân ngoại’ - không phải người Do thái), chúng ta nhận thấy người mở lời xin nước (Đức Giê-su) lại trở thành người ban nguồn nước (không chỉ nước uống bình thường từ giếng Gia-cóp, mà là nước hằng sống); còn người được xin nước hoặc người dự định cho nước (phụ nữ Sa-ma-ri-a) lại trở thành người xin nước: “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị: Cho tôi chút nước uống, thì hẳn chị đã xin, và người ấy đã ban cho chị nước hằng sống” (Ga 4, 10)! Cuộc gặp gỡ với Đức Giê-su Ki-tô khiến người phụ nữ này giác ngộ nỗi niềm khao khát sâu thẳm trong cõi lòng mình: “Thưa ông, xin ông cho tôi thứ nước ấy…” (x. Ga 4, 15), và cũng khiến con người chúng ta biết rõ thân phận, biết nỗi lòng khát khao hạnh phúc đích thật nơi mỗi người cần được lấp đầy. Hơn nữa, cuộc trần tình giữa Đức Giê-su với người phụ nữ Sa-ma-ri-a hoá giải những tập tục không thể (như sự giao tiếp giữa người Do thái và người Sa-ma-ri-a, mà đây giữa người nam Do thái với người nữ Sa-ma-ri-a lại càng không thể) thành có thể và mang một ý nghĩa thiêng liêng hơn, đó là: cô ta sống chân thật khi được hỏi về hiện trạng đời sống hôn nhân-gia đình, cô ta và những người trong làng tin nhận Đấng Cứu Thế và xin Đức Giê-su ở lại với họ.

Nỗi khao khát chân lý, khao khát nước hằng sống, khao khát hạnh phúc đích thật của người phụ nữ Sa-ma-ri-a và dân trong làng dường như được lấp đầy nhờ cuộc gặp gỡ với Đấng Cứu Độ, và được thoả mãn nhờ sự hiện diện của Con Thiên Chúa, “khi đến gặp Người, dân Sa-ma-ri-a xin Ngài ở lại với họ, và Ngài đã ở lại đó hai ngày” (Ga 4, 40). Cảm nghiệm sống động này không ai khác ngoài Thánh Phao-lô đã trải qua như ngài khẳng khái tuyên xưng trong thư gửi giáo đoàn Rô-ma: “Trông cậy như thế, chúng ta sẽ không phải thất vọng, vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta” (Rm 5, 5). Và gương trở về của Thánh Âu-gus-ti-nô làm chúng ta bàng hoàng và càng tin tưởng vào Thiên Chúa hơn. Thánh nhân vốn dĩ mải mê tìm kiếm lạc thú trần gian suốt nhiều năm trường, nhưng chẳng có gì nơi cõi trần này có thể lấp đầy trái tim khát khao của ngài. Mãi đến tuổi 33, nhờ ơn thánh và lời cầu nguyện liên lỉ với nước mắt của Thánh Mô-ni-ca mẹ ngài, Âu-gus-ti-nô được ơn trở lại và tìm được duy chỉ một mình Thiên Chúa là Đấng đem lại cho ngài niềm hoan lạc vô biên, là Đấng lấp đầy nỗi niềm khao khát hạnh phúc đích thật nơi sâu thẳm tâm hồn ngài. Do đó, ngài từng thốt lên trong tác phẩm ‘Confessio’ (‘Tự Thuật’): ‘Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con cho Chúa, vì thế hồn con mãi thổn thức khôn nguôi, cho tới khi được nghỉ yên trong tay Ngài’.

Suốt Mùa Chay thánh này, chúng ta được mời gọi trở về với lòng mình, trở về hầu gặp gỡ - trần tình với Đức Giê-su, vì duy chỉ có Ngài mới thoả lấp nỗi khát khao hạnh phúc đích thật đang hừng hực cháy bỏng nơi tâm hồn mỗi người. Và chúng ta cũng nên học đòi đặt niềm tín thác - cậy trông nơi Chúa như dân làng cùng người phụ nữ Sa-ma-ri-a kia, “…họ bảo người phụ nữ: Không phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Ngài thật là Đấng cứu độ trần gian” (Ga 4, 42).

Lm. Xuân Hy Vọng

=========================

TỪ SA MẠC KHÔ CẰN ĐẾN MẠCH NƯỚC HẰNG SỐNG
 

Bước vào Chúa Nhật thứ III Mùa Chay năm A, phụng vụ Lời Chúa dẫn chúng ta vào một hành trình thiêng liêng thật sâu sắc: từ sa mạc khô cằn của dân Ít-ra-en trong Sách Xuất Hành (Xh 17, 3-7), đến lời khẳng định tràn đầy hy vọng của Thánh Phao-lô Tông đồ trong thư gửi tín hữu Rô-ma (Rm 5, 1-2. 5-8), và cao điểm là cuộc gặp gỡ đầy biến đổi giữa Đức Giê-su Ki-tô với người phụ nữ Sa-ma-ri-a trong Tin Mừng theo Thánh Gio-an (Ga 4,5-42). Tất cả chung quy vào lời mời gọi tha thiết của Thiên Chúa trong (Tv 94, 1-2. 6-7. 8-9): “Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Người: “Các ngươi đừng cứng lòng!

Cơn khát

Cơn khát là hình ảnh nổi bật xuyên suốt. Dân Ít-ra-en khát nước giữa sa mạc, nên kêu trách và thử thách Thiên Chúa tại Mê-ri-ba và Ma-xa. Họ hỏi: “Chúa có ở với chúng tôi hay không?” (Xh 17,7) Đây không chỉ là cơn khát thể lý, nhưng là cơn khát niềm tin. Khi gian nan ập đến, họ quên mất những kỳ công Chúa đã làm. Tảng đá trở thành nơi thử thách lòng người: cứng như đá là trái tim nghi ngờ.

Lời Chúa trong Thánh Vịnh 94, 1-2. 6-7. 8-9 nhắc lại biến cố ấy như một lời cảnh tỉnh chúng ta: “Ðừng cứng lòng như ở Mê-ri-ba, như hôm ở Ma-xa trong khu rừng vắng, nơi mà cha ông các ngươi đã thử thách Ta, họ đã thử Ta mặc dầu đã thấy công cuộc của Ta”.

Mùa Chay chính là sa mạc thiêng liêng, nơi Thiên Chúa dẫn chúng ta đi vào cõi thinh lặng để đối diện với chính mình. Ở đây, chúng ta khám phá ra những khô cằn trong tâm hồn như: ích kỷ, nóng giận, ganh tị, hay những thói quen tội lỗi. Có lúc bệnh tật hay thất bại ập đến, chúng ta cầu xin mà dường như vô vọng. Ta cũng có thể tự hỏi: “Chúa có ở với con không?”

Thiên Chúa làm thoả mãn cơn khát

Nhưng giữa sa mạc ấy, Thiên Chúa vẫn cho nước vọt lên từ tảng đá. Thánh Phao-lô khẳng định: “Lòng mến Chúa đổ vào lòng chúng ta nhờ Thánh Thần.” (Rm 5, 5) Thiên Chúa không đợi chúng ta nên hoàn hảo mới yêu thương. “Trong lúc chúng ta còn là tội nhân, thì theo kỳ hẹn, Chúa Ki-tô đã chết vì chúng ta.” (Rm 5, 8) Thập giá chính là bằng chứng hùng hồn nhất chứng tỏ rằng Chúa đang ở với ta, và ở vì ta.

Cao điểm của mạc khải ấy là cuộc gặp gỡ bên giếng Gia-cóp. Người phụ nữ Sa-ma-ri-a mang trong mình một cơn khát sâu xa hơn nước giếng: khát yêu thương, khát được chấp nhận, khát một đời sống mới. Chị đã tìm hạnh phúc nơi nhiều mối tương quan, nhưng vẫn không thỏa mãn. Đức Giê-su nói: “Ai uống nước Ta sẽ cho thì không bao giờ còn khát nữa.”(Ga 4,14) Nước ấy chính là ân sủng, là sự sống thần linh, là tình yêu Thiên Chúa đổ vào lòng ta. Đấng Cứu Thế giả vờ khát nước đến xin người đàn bà nước để trao ban thứ nước ân sủng khỏi khát đời đời.

Thánh Ephrem viết: “Khi khát nước, Chúa chúng ta đã ngó đầu vào miệng giếng; Ngài xin người đàn bà nước uống. Từ giếng nước, Ngài đã câu được một tâm hồn. Nhưng tâm hồn ấy đã lại câu tiếp được cả dân trong thành” (Thánh Thi Giáng sinh số 4, 43-44).

Đúng như lời Kinh Tiền Tụng thánh lễ hôm nay diễn tả: “Khi người phụ nữ xứ Sa-ma-ri-a cho nước uống, Người đã ban cho bà đức tin. Vì Người tha thiết ước mong bà tin vững mạnh, nên đã đốt lên trong lòng bà ngọn lửa yêu mến Chúa…

Điều đáng chú ý: Chúa không lên án chị, nhưng dẫn chị đến sự thật. Người chạm vào vết thương của chị, không để làm chị xấu hổ, mà để chữa lành. Và khi được chạm đến bởi lòng thương xót, chị bỏ vò nước lại, trở thành người loan báo Tin Mừng. Từ một tâm hồn khô cằn, mạch nước đã vọt lên.

Hãy mở lòng mình ra cho mạch nước vọt lên

Lời nguyện nhập lễ hôm nay chỉ cho ta “cách chữa lành những vết thương tội lỗi” là: ăn chay, cầu nguyện, chia cơm sẻ áo. Ba việc ấy không phải là hình thức bên ngoài, nhưng là con đường mở lòng cho mạch nước ân sủng tuôn trào.

Ăn chay giúp ta nhận ra cơn khát thật của mình. Khi tự nguyện từ bỏ một điều gì đó, ta ý thức rằng chỉ mình Chúa mới làm ta no thỏa. Cầu nguyện là ngồi lại bên “giếng” với Đức Giê-su, để nghe tiếng Người. Và chia cơm sẻ áo là để mạch nước tình yêu không bị giữ lại cho riêng ta, nhưng chảy ra cho anh chị em.

Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Người.” Chữ “hôm nay” thật quan trọng. Không phải ngày mai, không phải khi ta hoàn hảo hơn, mà là hôm nay. Hôm nay, giữa bao bận rộn, giữa những khô khan, Chúa vẫn nói. Vấn đề là ta có cứng lòng không? Trái tim cứng cỏi giống như tảng đá chưa được đập vỡ. Nhưng khi ta để Lời Chúa chạm vào, tảng đá ấy có thể trở thành nguồn nước.

Mùa Chay không phải là thời gian buồn bã, nhưng là thời gian của hy vọng. Vì Thiên Chúa của chúng ta là “Đá Tảng cứu độ”. Đá không còn là biểu tượng của cứng lòng, nhưng là nền tảng vững chắc. Từ cạnh sườn Đức Ki-tô trên thập giá, nước và máu đã chảy ra mạch nước cứu độ cho nhân loại.

Ước mong sao, khi chúng ta quỳ gối trước nhan Chúa, ta thật sự nghe tiếng Người, dám mang những khát vọng, yếu đuối và tội lỗi của mình đến với Chúa. Và ước gì, sau khi được uống nước hằng sống, mỗi người chúng ta cũng biết để “vò nước” lại, bỏ đi những bám víu cũ, để trở thành chứng nhân của lòng thương xót.

Xin Chúa là Đấng rất từ bi nhân hậu thương nhìn đến chúng con, nâng đỡ chúng con trong hành trình Mùa Chay này. Để từ sa mạc khô cằn của tội lỗi, mạch nước ân sủng vọt lên trong tâm hồn, dẫn chúng con đến sự sống đời đời. Amen.

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

=======================

CƠN KHÁT VÀ NGUỒN NƯỚC HẰNG SỐNG (Ga 4,5-42)
Nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.
 
Kính thưa cộng đoàn,
Lời Chúa hôm nay mạc khải cho chúng ta về nguồn nước hằng sống xuất phát nơi Đức Giê-su Ki-tô. Khởi đi từ bài đọc thứ nhất, sách Xuất hành trình bày phép lạ mạch nước từ một tảng đá chảy ra. Sau khi ra khỏi Ai-cập, dân Ít-ra-en đi trong sa mạc. Dân chúng thấy khát vì thiếu nước. Cho nên họ mới kêu trách ông Mô-sê: “Ông đưa chúng tôi ra khỏi Ai-cập để làm gì? Có phải là để cho chúng tôi, con cái chúng tôi, và súc vật của chúng tôi bị chết khát hay không?” Từ cơn khát thể lý dẫn đến khủng hoảng đức tin, dân chúng nghi ngờ về sự hiện diện của Thiên Chúa: “Có Đức Chúa ở giữa chúng ta hay không?” Mặc dù, họ đã được chứng kiến các phép lạ bên Ai-cập, phép lạ vượt qua Biển Đỏ. Tuy nhiên, Thiên Chúa không bỏ rơi dù dân chúng kêu trách Ngài. Thiên Chúa truyền có ông Mô-sê dùng cây gậy đã đập xuống dòng sông Nin để đạp vào tảng đá trên núi Khô-rếp. Từ tảng đá, nước chảy ra cho dân uống. (x.Xh 17,3-7) Thánh Phao-lô đã liên tưởng đến Chúa Giê-su: “Tảng đá ấy chính là Đức Ki-tô” (1Cr 10,4).
Đến bài Tin Mừng, Chúa Giê-su đã mạc khải cho người phụ nữ Sa-ma-ri-a một mạch nước xuất phát từ chính Người. Mạch nước này sẽ giúp con người không bao giờ phải khát. Người phụ nữ Sa-ma-ri-a ra giếng ông Gia-cóp để lấy nước. Ở đó, chị gặp Chúa Giê-su. Chúa Giê-su chủ động xin một người dân ngoại cho nước uống. Theo tục lệ, người Do-thái không được giao thiệp với người Sa-ma-ri-a, nhất là với phụ nữ. Nhưng Chúa Giê-su vượt qua mọi rào cản xã hội. Từ đó, Chúa Giê-su mạc khải mạch nước trường sinh. “Ai uống nước này, sẽ lại khát. Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.” Để làm người phụ nữ tin, Chúa Giê-su đã nói về cuộc đời của người phụ nữ và chị đang khao khát được chữa lành vết thương tâm hồn. Người phụ nữ đi lấy nước giữa trưa để tránh ánh mắt người đời. Chị mang trong mình nhiều mảnh vỡ tình cảm. Chị không chỉ khát nước thể lý, nhưng thực sự khát yêu thương, khát được chấp nhận. Chúa Giê-su xuất hiện để khỏa lấp cơn khát của chị. Người không lên án quá khứ, nhưng đối thoại, khơi mở và chữa lành. Nhờ đó chị đã tìm được nguồn nước thật, nguồn nước đem lại bình an và hạnh phúc. Chị đã bỏ vò nước lại, chạy vào thành và loan báo cho dân chúng.
Cho đến muôn đời, nhân loại luôn khát sự thật, khát tình yêu, khát sự cảm thông, khát sự chia sẻ. Tất cả các cơn khát đó sẽ được lấp đầy bởi tình yêu của Thiên Chúa. Thánh Phao-lô đã khẳng định với tín hữu thành Rô-ma: “Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta.” (Rm 5,5) Khi sống trong tình yêu Thiên Chúa, con người sẽ được cứu độ và được sống muôn đời. Mỗi người hãy đến kín múc tình yêu Thiên Chúa nới bàn tiệc Lời Chúa và bàn tiệc Thánh Thể để khỏi khát muôn đời.
Có một người đàn ông đi lạc trong sa mạc nhiều ngày. Ông tìm thấy một căn chòi nhỏ. Trong đó có một chiếc bơm nước cũ và một chai nước nhỏ, kèm tờ giấy:
“Hãy đổ hết chai nước này vào bơm, rồi bạn sẽ có nước dồi dào.”
Ông phân vân:

  • Uống chai nước nhỏ để sống tạm?
  • Hay liều tin lời nhắn, đổ hết vào bơm?

Ông chọn tin. Sau vài lần bơm, nước phun trào mát lạnh.
Trước khi rời đi, ông viết thêm:
“Hãy tin. Nước thật sự ở dưới sâu.”
Như vậy, đức tin đòi ta dám “đổ hết” – dám trao phó. Và Thiên Chúa không làm ta thất vọng.
Lạy Chúa, xin cho con biết chạy đến với Chúa để con khỏi khát và được sống muôn đời. A-men.

Jos. Nguyễn

====================

CƠN KHÁT KHÔNG GÌ DẬP TẮT

Khi đi trong sa mạc khô cháy, trên đầu là nắng lửa, dưới chân là cát nung, đoàn dân Ítraen trong hoang địa mới cảm nghiệm rõ ràng cơn khát có thể hành hạ con người đến mức nào. Chính trong cơn khát ấy, họ đã nổi loạn, đổ lỗi cho Môsê đã đưa họ vào nơi chết chóc, và thậm chí đòi ném đá vị lãnh tụ của mình (x. Xh 17,3–7).
Nhưng cơn khát của con người không chỉ dừng lại ở nhu cầu thể lý. Sâu xa hơn, nơi mỗi người còn có một cơn khát siêu nhiên, một khát vọng vô biên mà không một thực tại trần thế nào có thể làm cho no thỏa. Dù có được cả thế gian, con người vẫn không nguôi thao thức, vì tất cả rồi cũng chỉ là phù vân.
2. Người phụ nữ Samari: khát hạnh phúc nhưng không bao giờ đủ
Người phụ nữ Samari trong Tin Mừng là hình ảnh rất thật của cơn khát ấy. Chị đã mưu tìm hạnh phúc qua năm đời chồng, và nay sống với người thứ sáu. Chị đi tìm hạnh phúc cũng như đi lấy nước: ngày nào cũng phải đến giếng, múc đầy vò, nhưng rồi ngày hôm sau lại khát.
Arthur Schopenhauer từng nhận xét rất cay đắng: “Những lạc thú mà thế gian cống hiến cho con người chỉ như nắm cơm bố thí cho kẻ hành khất: làm dịu cơn đói hôm nay, rồi ngày mai lại đói.” Cha Anthony de Mello cũng nói tương tự: việc thỏa mãn dục vọng không giải phóng con người khỏi dục vọng, nhưng chỉ làm phát sinh những khát vọng mới, mạnh hơn, dữ dội hơn. Và cứ thế, vòng xoáy khát khao – thỏa mãn – lại khát khao tiếp diễn không cùng. Càng chạy theo để lấp đầy, con người càng bị thiêu đốt bởi chính cơn khát trong lòng mình.
3. Một cuộc gặp gỡ phá vỡ mọi hàng rào
Giữa trưa nắng gắt, người phụ nữ ấy bất ngờ gặp Đức Giêsu đang ngồi bên giếng Giacóp. Ngài xin chị: “Cho tôi chút nước uống.” (c.7)
Lời xin ấy làm chị ngạc nhiên: “Ông là người Do Thái mà lại xin tôi, một phụ nữ Samari, cho ông uống nước sao?” (c.9)
Câu hỏi ấy gợi lại mối thù hằn kéo dài hơn bốn thế kỷ giữa Do Thái và Samari. Nhưng Đức Giêsu không tranh luận, không lên án, không né tránh. Ngài phá vỡ sự ngăn cách bằng một thái độ khiêm tốn, và mở ra một cuộc đối thoại chân thành. Không chỉ phá bỏ ranh giới dân tộc, Đức Giêsu còn vượt qua những lề luật xã hội khi tiếp xúc riêng tư với một phụ nữ bị coi là không đứng đắn. Đây không chỉ là một cử chỉ thân thiện, mà là một cuộc cách mạng âm thầm của tình yêu, phá tan mọi hàng rào do định kiến, luật lệ và sợ hãi dựng nên.
4. “Nước hằng sống”: từ hiểu lầm đến hoán cải
Câu chuyện bất ngờ xoay chiều khi Đức Giêsu mạc khải rằng Ngài có một thứ nước uống vào sẽ không còn khát nữa. Người phụ nữ vội vàng xin thứ nước ấy, nhưng vẫn hiểu theo nghĩa đen, như Nicôđêmô đã từng hiểu sai về việc tái sinh. Chỉ đến khi Đức Giêsu nói: “Chị hãy gọi chồng chị lại đây,” (c.16), chị mới sững sờ. Ngài biết rõ toàn bộ cuộc đời chị. Không còn che giấu, không còn phòng vệ, chị thốt lên: “Tôi thấy ông thật là một ngôn sứ.” (c.19)
Từ chỗ giễu cợt, nghi ngại, chị bước vào sự thật. Và chính trong ánh sáng sự thật ấy, chị dám mở lòng để hỏi về điều sâu xa nhất: thờ phượng Thiên Chúa ở đâu mới là đúng?
5. Thờ phượng trong Thần Khí và Sự Thật
Đức Giêsu trả lời cách dứt khoát: việc thờ phượng không còn bị giới hạn bởi núi Garidim hay đền thờ Giêrusalem. Nơi thờ phượng đích thực là tâm hồn con người, nơi Thiên Chúa muốn ngự trị. “Những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong Thần Khí và Sự Thật.” (c.24)
Khi người phụ nữ nói đến Đấng Kitô sẽ đến để loan báo mọi sự, Đức Giêsu liền mạc khải điều chưa từng nói trước đó: “Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây.” (c.26) Niềm vui bùng nổ. Chị bỏ vò nước lại, chạy về làng loan báo Tin Mừng. Chính từ lời chứng đơn sơ ấy, dân làng đã tuyên xưng: “Ngài thật là Đấng Cứu Độ trần gian.” (c.42)
6. Đức Giêsu – Mạch Nước trường sinh cho mọi cơn khát
Qua người phụ nữ Samari, Đức Giêsu mạc khải Ngài chính là Mạch Nước trường sinh. Thánh Augustinô, sau những năm dài mải mê danh vọng và lạc thú, cuối cùng cũng nhận ra không gì trên đời này có thể lấp đầy cơn khát sâu thẳm của lòng người. Ngài đã thốt lên lời nguyện nổi tiếng: “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con cho Chúa, nên hồn con luôn băn khoăn thao thức cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa.”
Mùa Chay mời gọi ta dừng lại bên giếng đời mình, nhận diện những cơn khát đang chi phối, và can đảm để cho Đức Giêsu dẫn ta từ nước chóng khát đến nước hằng sống, từ khát vọng tạm bợ đến sự sống đời đời.
Cầu nguyện
Lạy Chúa!
Tâm hồn con vẫn có những khát khao,
nhưng mấy khi hiểu điều mình khao khát,
có ý nghĩa và giá trị gì không,
hay vùi mình trong bùn sâu danh vọng,
vì không nghe tiếng Chúa tự cõi lòng.
Con chỉ muốn chiếm ngay điều trước mắt,
bằng mọi giá để nắm bắt thành công,
nên biến những khát vọng thành tham vọng,
chứ không thành điều tốt như Chúa mong.
Ít khi con đối diện với chính mình,
để thấy điều đang diễn biến trong tâm,
và khi thiếu những giây phút lặng trầm,
con làm thành cuộc đua không đích điểm.
Nội tâm con không thiếu những rẽ phân,
những nhập nhằng và bon chen sân hận,
con xấu hổ nên che lấp bản thân,
nhưng rồi ánh sáng Chúa đã phơi trần.
Xin cho biết được điều con phải trở bước,
hiểu được điều con phải trở về,
nghe được điều con phải trở nên,
thấy được điều con phải trở thành.
Cho con vượt lên khao khát tầm thường,
đừng lụy vướng vào tình trường thế tục,
mà lo đạt tới Chúa nguồn tình thương,
Đấng cho con được no thỏa miên trường. Amen.

Lm. Thái Nguyên

=======================

 
 

Thông tin khác:
 

 

 
 
 
 
Bài Giảng của Đức Cha Đaminh Hoàng Minh Tiến Trong Thánh Lễ Bế Mạc Năm Thánh 2025
Liên kết website

 

 

 

Tiêu điểm
Website giaophanhunghoa.org được phát triển bởi đơn vị thiết kế web: MIP™ (www.mip.vn - mCMS).
log