
Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB
================
GIAO ƯỚC TÌNH YÊU VÀ SỨ MẠNG CHỨNG NHÂN
Trong đời sống, một "giao ước" hay một cam kết thường được thiết lập để bảo đảm sự tin tưởng và quyền lợi giữa các bên đối tác. Thế nhưng, trong tương quan với Thiên Chúa, Giao ước không đơn thuần là một bản thỏa thuận hay một bản luật lệ khô khan. Đó là một sự tuyển chọn đầy trìu mến, nơi Thiên Chúa mở ra một chương trình cứu độ, mời gọi con người bước vào đời sống của chính Ngài. Chúa Nhật XI Thường Niên hôm nay đặt chúng ta vào tâm điểm của Giao ước ấy: nơi Thiên Chúa không chỉ tuyển chọn một dân tộc làm của riêng, mà còn ký thác cho họ sứ mạng làm cánh tay nối dài của Ngài giữa một thế giới đầy dẫy những đổ vỡ và lạc lối.
1. Nền tảng Kinh Thánh: Tuyển chọn trong yêu thương
Thiên Chúa khởi đầu mối tương quan với Israel bằng một sự giải phóng cụ thể. Trong sách Xuất Hành, Ngài phán: “Các ngươi thấy Ta đã xử với Ai Cập thế nào, và đã mang các ngươi như trên cánh chim bằng, mà đem đến với Ta” (Xh 19,4). Hình ảnh “cánh chim bằng” không chỉ là sự che chở, mà là sự bảo bọc tuyệt đối. Thiên Chúa không chọn Israel vì họ hùng mạnh, Ngài chọn họ để làm “vương quốc tư tế, một dân thánh” (Xh 19,6). Đó là căn tính không thể lay chuyển của dân Chúa.
Đến thời Tân Ước, Giao ước ấy được kiện toàn nơi Đức Giêsu Kitô. Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Rôma khẳng định một sự thật đầy xác tín: “Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi” (Rm 5,8). Đây chính là đỉnh cao của tình yêu Giao ước. Trong Tin Mừng Mátthêu hôm nay, Chúa Giêsu nhìn đám đông mà “chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt” (Mt 9,36). Ngài không chỉ cảm thương, Ngài thực thi hành động cứu thế khi sai Nhóm Mười Hai đi truyền giáo: “Hãy đi đến với các chiên lạc nhà Israel. Dọc đường hãy rao giảng rằng: Nước Trời đã đến gần” (Mt 10,6-7).
Thánh Gioan Kim Khẩu, trong bài giảng về Tin Mừng Mátthêu, đã lưu ý: “Chúa không sai các ông đến với những kẻ mạnh, nhưng đến với những kẻ lạc lối, vì chính nơi những người yếu đuối nhất mà quyền năng Thiên Chúa được tỏ hiện rõ nhất”. Giáo hội, trong Hiến chế Lumen Gentium (số 9), cũng xác quyết: “Thiên Chúa muốn thánh hóa và cứu độ con người không phải từng cá nhân đơn lẻ, mà bằng cách tập hợp họ thành một dân tộc duy nhất để phục vụ Ngài trong sự thật”.
2. Thực trạng: Sự đứt gãy của Giao ước giữa đời thường
Tại Việt Nam hôm nay, chúng ta thấy rõ những "chiên lạc" không chỉ là những người chưa biết Chúa, mà là chính những người xung quanh chúng ta, thậm chí là chính chúng ta. Đó là những người đang sống trong sự bất an của chủ nghĩa thực dụng. Khi tiền bạc trở thành thước đo giá trị, khi sự gian dối trở thành "kỹ năng" sống sót, người ta đã vô tình tự tách mình khỏi Giao ước của Thiên Chúa.
Sự đứt gãy của Giao ước xảy ra khi chúng ta chỉ biết đến Thiên Chúa trong nhà thờ, còn ngoài đời lại sống theo luật của thế gian. Chúng ta giữ Giao ước như một văn bản tôn giáo, mà quên mất rằng Lời Chúa đòi hỏi sự trung thực quyết liệt. Chúng ta nói về tình yêu, nhưng lại sống vô cảm trước sự đau khổ của người cộng sự, của nhân viên hay người hàng xóm. Chúng ta lãng quên lệnh truyền của Chúa Giêsu: “Anh em đã được cho không, thì hãy cho không như vậy” (Mt 10,8), bởi lẽ chúng ta luôn tính toán "được - mất" trong các mối quan hệ. Những vết nứt ấy không chỉ làm tổn thương tha nhân, mà còn làm cho hình ảnh của Chúa trở nên mờ nhạt, khiến người ngoại không còn nhận ra đâu là "dân thánh" của Chúa nữa.
3. Áp dụng: Thực thi sứ mạng làm "thợ gặt"
Lời Chúa hôm nay không dành cho những người đứng ngoài cuộc. Chúa Giêsu truyền cho chúng ta: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ gặt đến làm việc” (Mt 9,37-38). Việc trở thành "thợ gặt" của Chúa đòi hỏi sự dấn thân thật sự.
• Sống tư tế trong lao động: Nếu bạn là người kinh doanh, sự trung thực trong sổ sách, chất lượng tử tế trong sản phẩm chính là lễ vật tư tế dâng lên Chúa. Đừng thỏa hiệp với các hành vi gian dối, vì đó là lúc bạn phá vỡ Giao ước với Thiên Chúa. Làm việc tử tế là cách bạn thờ phượng Chúa giữa thị trường.
• Chạnh lòng thương xót để chữa lành: Khi thấy đối tác, nhân viên hay người thân gặp sai lầm, hãy học lấy ánh mắt của Chúa Giêsu. Đừng vội phán xét bằng cái tôi, hãy "chạnh lòng thương" để chữa lành. Đó là cách bạn mang sự sống của Chúa vào những nơi đang có sự đổ vỡ.
• Dấn thân không đợi chờ: Công đồng Vatican II trong Sắc lệnh Apostolicam Actuositatem (số 13) khẳng định: “Người giáo dân phải làm cho đời sống mình trở thành dấu chỉ chứng nhân cho tình yêu của Chúa giữa trần gian”. Bạn không cần làm điều vĩ đại, bạn chỉ cần giữ lời hứa khi làm ăn, tử tế khi đối diện với sự hung hăng, và điềm tĩnh khi đối diện với khó khăn. Đó là cách bạn thực thi Giao ước mới trong môi trường Việt Nam đầy thử thách.
Lạy Chúa, Chúa đã chọn chúng con làm dân thánh, xin cho chúng con không chỉ biết lãnh nhận Giao ước, mà còn biết sống trung tín với Giao ước ấy trong từng công việc hàng ngày. Xin cho cuộc đời chúng con trở thành bài giảng sống động, làm chứng nhân cho sự hiện diện của Chúa giữa thế giới hôm nay. Amen.
Jos. Vinc. Ngọc Biển
==================
LÚA CHÍN ĐẦY ĐỒNG
Chúa Nhật XI Thường Niên A– Mt 9,36 – 10,8
Có một nghịch lý rất thật của thời đại hôm nay: con người càng văn minh lại càng dễ cảm thấy lạc lõng. Người ta nói nhiều về phát triển, thành công, tự do, nhưng đồng thời cũng chứng kiến sự gia tăng của khủng hoảng tinh thần, bạo lực, mất phương hướng và trống rỗng nội tâm. Có lẽ nhân loại chưa bao giờ “đông” như hôm nay, nhưng cũng chưa bao giờ “lạc đàn” như hôm nay.
Tin Mừng hôm nay mở ra một hình ảnh đầy xúc động: “Đức Giêsu thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng như bầy chiên không người chăn dắt” (c.36). Động từ Hy Lạp splagchnizomai – “chạnh lòng thương” – diễn tả sự rung động từ tận ruột gan, khi nhìn đám đông chơ vơ đang bị tổn thương và cần một bàn tay nâng đỡ.
1. Đám người đông đúc nhưng vẫn bơ vơ
Điều đáng nói là dân Do Thái giáo thời ấy đâu thiếu người lãnh đạo tôn giáo. Họ có tư tế, kinh sư, luật sĩ và Pharisêu. Nhưng càng nhiều luật lệ, dân chúng lại càng nặng nề. Càng nhiều người “lãnh đạo”, con người lại càng “vất vưởng”. Đó là bi kịch muôn thuở của tôn giáo khi đánh mất trái tim. Vấn đề không phải họ thiếu kiến thức tôn giáo, nhưng thiếu lòng thương xót. Họ biến đức tin thành gánh nặng hơn là con đường dẫn tới Thiên Chúa.
Ngày nay cũng thế. Có thể các sinh hoạt tôn giáo vẫn đông đảo, nhà thờ vẫn đầy người, nhưng nhiều tâm hồn vẫn mất bình an và cảm thấy bị bỏ rơi. Điều thế giới thiếu không không phải là những hoạt động sầm uất bên ngoài, nhưng là những mục tử thật sự biết đau nỗi đau của dân Chúa. Đức Giáo Hoàng Phanxicô từng cảnh báo về hình ảnh những người mục tử trở thành “công chức của đền thờ”, làm việc tôn giáo như một nghề nghiệp hơn là một sứ mạng yêu thương.
2. Cơn khát âm thầm của nhân loại
Đức Giêsu nói: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít” (c.37). Đức Giêsu không nhìn thế giới hôm nay như một cánh đồng khô cằn, nhưng nhìn thấy “lúa chín”. Một thế giới tưởng như xa Chúa, nhưng vẫn còn bao tâm hồn đang âm thầm khát chân lý, khát yêu thương và được chữa lành.
Con người hôm nay bị cuốn vào mạng xã hội, chủ nghĩa hưởng thụ và nhịp sống gấp gáp, nhưng sâu thẳm vẫn là câu hỏi: “Tôi sống để làm gì? Rồi đời mình sẽ đi về đâu?” Khủng hoảng lớn nhất của nhân loại không phải là kinh tế hay chính trị, nhưng là khủng hoảng linh hồn.
Thế nhưng có nhiều người nghĩ rằng: con người hiện đại đâu cần Thiên Chúa vẫn sống tốt. Đúng, con người có thể xây dựng một nền văn minh rất cao mà không cần nhắc đến Thiên Chúa. Nhưng nền văn minh ấy có chữa được nỗi cô đơn, sự sợ hãi cái chết và cơn khát ý nghĩa của lòng người không?” Điều đáng sợ nhất không phải là thế giới chống lại Tin Mừng, nhưng là người Kitô hữu đánh mất lửa Tin Mừng.
3. Những người dám đáp trả
“Rồi Đức Giêsu gọi mười hai môn đệ lại…” (10,1). Điều đặc biệt là Đức Giêsu không chọn những người ưu tú nhất thời đó. Các Tông đồ phần lớn là dân chài, người thu thuế, những con người đầy giới hạn.
Mọi cuộc canh tân lớn trong Giáo Hội đều bắt đầu từ những con người dám để Chúa sử dụng. Không phải tài năng tạo nên vị tông đồ, nhưng là trái tim biết đáp lời. Và cầu nguyện là cách dấn thân đầu tiên cho sứ mạng: “Anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về” (9, 38). Không cầu nguyện, người tông đồ rất dễ biến thành nhà hoạt động: làm nhiều việc cho Chúa nhưng dần đánh mất chính Chúa.
Bài đọc I hôm nay cũng cho thấy ngay từ đầu Thiên Chúa đã muốn quy tụ dân Ngài thành “vương quốc tư tế và dân thánh” (Xh 19,6). Nghĩa là không ai được cứu riêng lẻ; người được gọi cũng được sai đi để trở thành dấu chỉ cứu độ cho người khác.
Công đồng Vat. II khẳng định rằng mọi Kitô hữu, nhờ Bí tích Rửa Tội, đều tham dự vào sứ mạng của Hội Thánh (LG, 31-33). Đức Phanxicô cũng nhấn mạnh:“Mỗi Kitô hữu là một nhà truyền giáo trong mức độ họ đã gặp được tình yêu của Thiên Chúa nơi Đức Kitô” (EG, 120).
4. Cho đi điều mình đã lãnh nhận
“Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không” (10, 8). Kitô giáo không phải là giữ đạo để tích lũy công trạng, nhưng là trao ban điều mình đã lãnh nhận. Điều đáng sợ là đôi khi tôn giáo cũng bị biến thành một hình thức sở hữu: sở hữu chân lý, sở hữu đạo đức, sở hữu Thiên Chúa. Khi ấy, người ta dễ nhân danh Chúa để xét đoán hơn là cứu chữa.
Đức Giêsu lại sai các môn đệ đi chữa lành, trừ quỷ và nâng dậy con người. Trong nghĩa sâu xa, ‘quỷ’ còn là mọi sức mạnh làm con người đánh mất tự do: hận thù, ích kỷ, giả dối, nghiện ngập và tuyệt vọng. Có một nghịch lý là nhiều người muốn thay đổi thế giới nhưng không muốn trao chính mình. Trong khi Tin Mừng luôn bắt đầu từ sự hiến trao.
Kết
“Lúa chín đầy đồng” không chỉ là lời mời gọi có thêm linh mục hay tu sĩ, nhưng là lời đánh thức mọi Kitô hữu. Bởi cánh đồng truyền giáo không ở đâu xa: đó là gia đình, môi trường sống, những người đang tuyệt vọng, những tâm hồn đang mất phương hướng quanh ta mỗi ngày.
Điều Giáo Hội cần hôm nay không chỉ là số lượng, nhưng là những mục tử và những tín hữu có trái tim giống Đức Kitô: biết chạnh lòng thương, biết cúi xuống, biết chữa lành và dám sống cho người khác.
Cầu nguyện
Lạy Cha!
Mỗi người chúng con sinh ra đời,
đều được Chúa gọi mời vào sứ vụ,
là được nên nhân chứng Đức Ki-tô
đem đến cho con người ơn cứu độ.
Nhưng nhiều khi con vô tình sao lãng,
làm phí phạm mất mát những ân ban,
khi nhìn lại con mới chợt bàng hoàng,
vì thấy Chúa vẫn còn đang mong đợi.
Có những khi con sống như người đời,
ham địa vị và tranh quyền đoạt lợi,
cũng hơn thua cũng mưu mô tính toán,
làm tông đồ mà khoe khoang tự mãn.
Có khi con sống đạo rất mơ màng,
chỉ cần được lên thiên đàng là đủ,
chẳng cần chi nhiệt tình với sứ vụ,
con cứ lo phòng thủ với biện minh,
để mình sống an nhàn khỏi hy sinh,
mà vẫn thấy đời mình là chân chính.
Con muốn bắt đầu lại từ hôm nay,
đáp trả tình yêu Chúa quá cao dầy,
vẫn đong đầy từng ngày sống của con,
con không biết phải sống sao cho trọn,
nhưng lòng con chỉ chọn Chúa mà thôi.
Cho con biết lên đường làm chứng tá,
là đem đến Tin Mừng cho thiên hạ,
để mỗi ngày nhân loại thêm biết Cha,
đời chúng con đã được Chúa cho không,
nên cũng phải hết lòng cho người khác. Amen.
Lm. Thái Nguyên
================
Chúa chọn gọi dân Israel, các tông đồ, kế đến là chúng ta
SUY NIỆM TIN MỪNG XI THƯỜNG NIÊN - A
(Mt 9, 36 – 10, 8)
Lời Chúa hôm nay mở ra trước mắt chúng ta một chân lý nền tảng của đời sống Ki-tô hữu: Thiên Chúa chọn gọi ai đó không phải để người ấy được hưởng đặc ân, nhưng để họ thi hành sứ mạng.
Chúa chọn dân Ít-ra-en
Cụ thể như Dân Ít-ra-en trong sách Xuất hành 19,2-6a. Thiên Chúa nhắc họ nhớ lại tình yêu cứu độ của Người: “Ta đã mang các ngươi trên cánh phượng hoàng và đem các ngươi đến với Ta” (Xh 19,4). Hình ảnh cánh phượng hoàng diễn tả sự chở che đầy quyền năng và tình thương của Thiên Chúa. Người không chỉ giải thoát dân khỏi cảnh nô lệ, mà còn dẫn họ đến một tương quan thân tình với chính Người.
Sau khi giải thoát dân khỏi Ai Cập, Thiên Chúa tuyển chọn họ làm “vương quốc tư tế, dân tộc hiến thánh” (Xh 19,4). Như vậy, việc tuyển chọn không phải là một vinh dự để tự hào, nhưng là một trách nhiệm để trở nên dấu chỉ tình yêu Thiên Chúa giữa muôn dân. Lời này cũng được ứng nghiệm nơi các Tông đồ.
Chúa chọn gọi mười hai tông đồ và sai đi
Lời Chúa trong Tin Mừng Mt 9, 36 – 10, 8 cho thấy nguồn gốc sâu xa của mọi ơn gọi trong Giáo Hội: đó là trái tim đầy lòng thương xót của Chúa Giê-su. Thánh Mát-thêu kể rằng khi nhìn thấy đám đông dân chúng “tất tưởi bơ vơ như những con chiên không người chăn dắt”, Chúa đã “động lòng xót thương” (Mt 9, 36). Trong nguyên ngữ Hy Lạp, từ này diễn tả một sự rung động tận đáy lòng. Chính lòng thương xót ấy đã trở thành khởi điểm của sứ mạng cứu độ và của việc tuyển chọn các Tông đồ.
Điều đáng chú ý là trước khi sai các môn đệ đi, Chúa Giê-su bảo họ cầu nguyện: “Xin Chủ ruộng sai thợ ra gặt lúa” (Mt 9, 38). Như thế, ơn gọi trước hết không phải là sáng kiến của con người, mà là hồng ân phát xuất từ Thiên Chúa. Các Tông đồ không tự chọn mình, nhưng được Chúa gọi đích danh giữa những con người rất khác nhau: ngư phủ, người thu thuế, người nhiệt thành, những người bình thường với nhiều giới hạn. Chính Chúa đã biến đổi họ thành những người cộng tác trong công trình cứu độ.
Sứ mạng Chúa trao cho các ông không chỉ là giảng dạy, nhưng còn là chữa lành, giải thoát và đem sự sống đến cho con người. Nói cách khác, các Tông đồ được sai đi để tiếp tục chính công việc của Chúa Giê-su. Điều họ nhận lãnh là ân ban nhưng không, nên họ cũng phải trao ban nhưng không.
Chúa chọn gọi chúng ta
Loan báo Tin Mừng là sứ mạng của Thiên Chúa, được Chúa Giê-su thi hành trước, rồi trao cho các Tông đồ và Giáo Hội. Chúng ta lấy làm vinh dự được cộng tác vào sứ mạng cao quý này.
Nhiệm vụ của mỗi chúng ta hơn bao giờ hết qua Bí tích Thánh Tẩy, chúng ta cũng được Chúa gọi và sai đi. Không phải ai cũng được mời gọi làm linh mục hay tu sĩ, nhưng mọi người đều có một sứ mạng trong gia đình, giáo xứ và xã hội. Thế giới hôm nay vẫn còn biết bao “chiên lạc”, những người đau khổ, mất phương hướng và khát khao tình yêu Thiên Chúa.
Chúa vẫn đang nhìn nhân loại bằng ánh mắt xót thương như xưa. Người cũng đang tìm những tâm hồn sẵn sàng đáp lại tiếng gọi của Người. Một Giáo Hội sống động không phải là Giáo Hội chỉ biết giữ đức tin cho mình, nhưng là Giáo Hội gồm những môn đệ được quy tụ để rồi được sai đi, đem Tin Mừng, bình an và lòng thương xót của Chúa đến cho mọi người. Chúng ta hãy thưa với Chúa: Lạy Chúa, này con đây, xin sai con đi, và nhanh chân tiến bước đi loan báo Tin Mừng.
Xin cho mỗi người chúng ta biết ý thức rằng mình được Chúa yêu thương, được Chúa chọn gọi và được Chúa sai đi. Để ở bất cứ nơi đâu, chúng ta cũng trở thành chứng nhân sống động của Tin Mừng, góp phần đưa nhiều người đến gặp gỡ Đức Ki-tô, Đấng là niềm hy vọng của thế giới. Amen.
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
===================
THỢ GẶT TRÊN CÁNH ĐỒNG TRUYỀN GIÁO
Trong một cuộc chuyện trò thân tình giữa các cha giáo với nhau, hầu hết cha nào cũng hỏi đại loại câu: Giáo phận cha còn ơn gọi không? Và rồi đâu đó nghe tiếng thở dài đáp lại: Vẫn còn, nhưng chẳng còn bao nhiêu!
Nhìn chung ơn gọi trên toàn thế giới, tại Châu Phi, Nam Mỹ và một số nước Châu Á vẫn còn khá nhiều ơn gọi; tuy nhiên, tại những nước Châu Âu, Bắc Mỹ, Châu Đại Dương thì sụt giảm đáng kể, nếu không muốn nói chẳng còn ai tha thiết với việc đi tu.
Quả thật, việc thiếu hụt linh mục, ơn gọi ngày càng ít ỏi không chỉ diễn ra trong thời nay, mà đã xảy ra vào thời Chúa Giê-su. Chỉ vỏn vẹn mười hai Tông đồ được chọn và được sai đi đến với toàn dân Is-ra-el bấy giờ. Hơn thế, Đức Giê-su nêu rõ ra thực trạng: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về” (Mt 9, 37-38). Thực tế thiếu ‘thợ gặt’ là vậy, nhưng Người dạy thêm “anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về”. Do đó, tiên vàn, ‘thợ gặt’ phải được ‘chủ mùa gặt’ gửi đến và sai đi. Nói cách khác, ơn gọi xuất phát từ Thiên Chúa. Người kêu mời, chọn lựa và sai đến với những cánh đồng truyền giáo bát ngát mênh mông.
Thế nhưng, chẳng phải vậy mà ‘thợ gặt’ thụ động đứng chờ, hoặc không làm gì cả! Với sự thương cảm, thấu hiểu sâu sắc, Đức Giê-su “chạnh lòng thương, vì thấy đám đông lầm than, vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt” (x. Mt 9, 36). Nhìn cánh đồng vàng óng, mà chẳng thấy thợ gặt đâu, tâm hồn ai mà không thổn thức, nhất là ‘Chủ mùa gặt’ - Thiên Chúa chúng ta. Quả vậy, “Người đã yêu thương chúng ta đến nỗi ban chính Con Một Người chịu chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi” (x. Rm 5, 8). Hơn thế, “…chúng ta đã được nên công chính nhờ máu Đức Ki-tô đổ ra” (Rm 5, 9), và “…nhờ Người, Chúa chúng ta, Đấng nay đã hoà giải chúng ta với Thiên Chúa” (Rm 5, 11). ‘Chủ mùa gặt’ hằng liên lỉ mời gọi, thúc giục, và sai ‘thợ gặt’ ra đi đến với những cánh đồng bát ngát, cũng như vùng ngoại biên; nhưng ‘thợ gặt’ hoặc ‘ứng viên thợ gặt’ có khi từ chối, do dự bước theo Lời Người. Đôi khi, tinh thần ra đi rao truyền, lửa nhiệt huyết truyền giáo đang dần tắt lịm, dẫn đến thái độ an vị, hoặc chỉ lựa chọn những nơi thuận tiện mà đi, v.v…
Thực tế là thế, nhưng ân sủng làm chứng cho Chúa, sứ mệnh rao truyền Nước Trời lớn lao hơn nhiều. “Rồi Đức Giê-su gọi mười hai môn đệ lại, ban cho các ông được quyền trên các thần ô uế, để các ông trừ chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền” (Mt 10, 1). Được trao ban đặc sủng, ơn thánh để ra đi thực hiện sứ vụ, chứ chẳng phải để tích luỹ công trạng hay thanh danh. Cụ thể hơn, “anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy” (Mt 10, 8). Là thừa tác viên có chức Thánh, chúng ta can đảm nhìn nhận mình vẫn còn vô vàn thiếu sót, còn do dự trong việc chia san ơn thiêng, còn rụt rè đảm đương những thách đố hiện tại trên cánh đồng truyền giáo, còn chọn lựa nơi tiện lợi và chưa dám ra khỏi vùng an toàn của bản thân. Đối với giáo dân, chúng ta cũng soi xét mình: từ trước tới nay, tôi đã hiểu thế nào về sứ mạng rao giảng Tin Mừng? Tôi vẫn đứng ngoài lề bàng quan, và xem đó không phải là bổn phận của mình? Tôi đã được Chúa ban cho rất nhiều (đơn cử: thời gian, tài nguyên, tài năng, sức khoẻ, khả năng vận dụng tâm trí, lý trí, tự do, phán đoán, lên kế hoạch, v.v…), mà tôi đã biết tận dụng để chia san, đóng góp, xây dựng cộng đoàn, Giáo hội và xã hội chưa?
Trên hết, là những ‘thợ đang gặt’ trên cánh đồng truyền giáo bát ngát hôm nay, xin cho lửa nhiệt huyết ngày càng bừng cháy, lan toả khắp nơi. Là những ‘thợ gặt tương lai’, xin cho họ ý thức sứ mạng làm chứng, trau dồi tâm-thể-trí lực dám đảm đương, chấp nhận mọi thách đố của thời đại mà dấn thân không ngừng, vì chưng “anh em đã được lãnh nhận nhưng không, thì cũng phải cho đi như vậy” (x. Mt 10, 8). Amen!
Lm. Xuân Hy Vọng
===================
