Thứ bảy, 18/04/2026

Chúa Nhật Tuần III - Mùa Phục Sinh: Tin Mừng (Lc 24,13-35)

Cập nhật lúc 15:00 18/04/2026
 

Tin Mừng: Lc 24,13-35
Họ đã nhận ra Chúa khi Người bẻ bánh.

 
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.
13 Vào ngày thứ nhất trong tuần, có hai người trong nhóm môn đệ đi đến một làng kia tên là Em-mau, cách Giê-ru-sa-lem chừng mười một cây số. 14 Họ trò chuyện với nhau về tất cả những sự việc mới xảy ra. 15 Đang lúc họ trò chuyện và bàn tán, thì chính Đức Giê-su tiến đến gần và cùng đi với họ. 16 Nhưng mắt họ còn bị ngăn cản, không nhận ra Người. 17 Người hỏi họ: “Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy ?” Họ dừng lại, vẻ mặt buồn rầu.
18 Một trong hai người tên là Cơ-lê-ô-pát trả lời: “Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giê-ru-sa-lem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay.” 19 Đức Giê-su hỏi: “Chuyện gì vậy ?” Họ thưa: “Chuyện ông Giê-su Na-da-rét. Người là một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân. 20 Thế mà các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta đã nộp Người để Người bị án tử hình, và đã đóng đinh Người vào thập giá. 21 Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Ít-ra-en. Hơn nữa, những việc ấy xảy ra đến nay là ngày thứ ba rồi. 22 Thật ra, cũng có mấy người đàn bà trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi kinh ngạc. Các bà ấy ra mộ hồi sáng sớm, 23 không thấy xác Người đâu cả, về còn nói là đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng Người vẫn sống. 24 Vài người trong nhóm chúng tôi đã ra mộ, và thấy sự việc y như các bà ấy nói ; còn chính Người thì họ không thấy.”
25 Bấy giờ Đức Giê-su nói với hai ông rằng: “Các anh chẳng hiểu gì cả ! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ ! 26 Nào Đấng Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao ? 27 Rồi bắt đầu từ ông Mô-sê và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh.
28 Khi gần tới làng họ muốn đến, Đức Giê-su làm như còn phải đi xa hơn nữa. 29 Họ nài ép Người rằng: “Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn.” Bấy giờ Người mới vào và ở lại với họ. 30 Khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ. 31 Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất. 32 Họ mới bảo nhau: “Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao ?”
33 Ngay lúc ấy, họ đứng dậy, quay trở lại Giê-ru-sa-lem, gặp Nhóm Mười Một và các bạn hữu đang tụ họp tại đó. 34 Những người này bảo hai ông: “Chúa trỗi dậy thật rồi, và đã hiện ra với ông Si-môn.” 35 Còn hai ông thì thuật lại những gì đã xảy ra dọc đường và việc mình đã nhận ra Chúa thế nào khi Người bẻ bánh.
================

SUY NIỆM: CHÚA NHẬT TUẦN III - MÙA PHỤC SINH

Hai môn đệ trên đường về làng Em-mau năm xưa cũng giống hệt chúng ta giữa những bộn bề toan tính của cuộc đời hôm nay. Họ đi ngược hướng với hy vọng, rời bỏ thành thánh Giê-ru-sa-lem để tìm về cái hang trú ẩn của sự an phận. Bước chân họ nặng nề, không phải vì quãng đường mười một cây số, mà vì hòn đá tảng của sự thất vọng đang đè nặng trong lòng. Họ nói về Chúa Giê-su như một kỷ niệm đẹp nhưng đã chết hẳn, một người của quá khứ với những động từ đã qua: Người “đã là” ngôn sứ, chúng tôi “đã hy vọng”.

Cái bi kịch của con người thường nằm ở chỗ đó: chúng ta than vãn về sự vắng mặt của Thiên Chúa ngay lúc Người đang kề vai sát cánh. Mắt chúng ta cứ mãi dán chặt vào nấm mồ trống mà quên mất rằng ánh bình minh đã hừng sáng sau lưng.

Giữa lúc tâm hồn họ đầy dẫy những lời than vãn, Đức Giê-su hiện diện như một người khách lạ. Người không dùng quyền năng để làm một phép lạ chói lòa, cũng không trách móc bằng những lời giáo điều khô khan. Người chọn cách khiêm nhường nhất: lắng nghe. Người để họ trút hết những cay đắng, những hiểu lầm, những vụn vỡ của niềm tin.

Rồi bằng giọng nói ấm áp, Người bắt đầu nối kết những mảnh rời rạc của đời họ bằng ánh sáng Kinh Thánh. Lòng họ bắt đầu bừng cháy, nhưng lạ thay, cái nóng của con tim vẫn chưa đủ để làm đôi mắt họ mở ra. Phải đợi đến khi bóng chiều đã xế, khi ngày sắp tàn và cái đói, cái mệt bủa vây, một cử chỉ giản đơn đã làm thay đổi tất cả. Trên bàn ăn mộc mạc, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho họ.

Chính trong khoảnh khắc tấm bánh bị “bẻ ra” ấy, đôi mắt họ mới bừng sáng. Có một sự tương phản kỳ diệu: khi tấm bánh tan vỡ cũng là lúc niềm tin được hàn gắn; khi người khách lạ biến mất khỏi tầm mắt cũng là lúc Người hiện diện trọn vẹn trong tâm hồn.

Và cũng chính tại đây, chúng ta nhận ra một chân lý rất gần gũi với đời sống đức tin hôm nay: hành trình Em-mau chính là hình ảnh của Thánh lễ mỗi ngày. Bàn tiệc Lời Chúa là lúc các môn đệ được Đức Giê-su giải thích Kinh Thánh, làm cho lòng họ bừng cháy. Bàn tiệc Thánh Thể là lúc họ được đồng bàn với Người, khi tấm bánh được bẻ ra và trao ban. Hai bàn tiệc ấy không tách rời, nhưng quyện vào nhau, để dẫn con người từ việc nghe đến việc gặp, từ hiểu biết đến hiệp thông, từ con tim bừng cháy đến đôi mắt được mở ra.

Bài học từ đường về Em-mau là bài học về cái nhìn. Đôi khi chúng ta cầu xin Chúa thay đổi hoàn cảnh, nhưng Chúa lại chọn thay đổi đôi mắt của chúng ta. Đường về vẫn xa, đêm tối vẫn bao trùm và những hiểm nguy vẫn còn đó, nhưng hai môn đệ không còn sợ hãi. Họ đứng dậy ngay lập tức, quay trở lại Giê-ru-sa-lem, nơi họ vừa mới trốn chạy, để loan báo Tin Mừng. Đôi chân không còn mỏi vì lòng đã có lửa.

Lạy Chúa Giê-su, giữa những lúc đời con gặp cơn bĩ cực, khi những dự tính tan tành và con muốn buông xuôi để tìm về một “Em-mau” của sự ích kỷ, xin Ngài hãy bước đến bên con. Xin hãy kiên nhẫn nghe con lẩm bẩm những nỗi buồn, rồi dùng Lời Ngài sưởi ấm đức tin đang nguội lạnh của con. Xin cho con biết siêng năng tham dự Thánh lễ, để được nuôi dưỡng nơi cả hai bàn tiệc: Lời Chúa và Thánh Thể. Xin cho con nhận ra Ngài nơi những tấm bánh cuộc đời bị bẻ ra mỗi ngày: nơi sự hy sinh của cha mẹ, nơi sự bao dung của bè bạn, và nơi chính những vụn vỡ của thân phận con. Xin Chúa ở lại với con, vì trời đã về chiều, để dù trong bóng tối của thử thách, con vẫn thấy ánh sáng phục sinh rạng ngời. Amen.

Antonius

==============

KHI NGƯỜI BẺ BÁNH
(CHÚA NHẬT TUẦN 3 PHỤC SINH NĂM A)
 
Qua Lời Tổng Nguyện của Chúa Nhật Tuần 3 Phục Sinh, Năm A này, các nhà phụng vụ muốn chúng ta ý thức rằng: Nhờ Mầu Nhiệm Vượt Qua, Chúa đã làm cho tâm hồn chúng ta tươi trẻ lại, và chan chứa niềm vui vì được làm con Chúa, xin Chúa cho chúng ta hằng giữ mãi niềm vui Chúa ban, và nắm chắc hy vọng được phục sinh vinh hiển.
 
Hằng giữ mãi niềm vui vì được làm con Chúa, kiên nhẫn khi gặp thử thách, như trong bài đọc một Kinh Sách, trích sách Khải Huyền: Con Chiên mở ấn, những hình ảnh khá cổ điển cho ta thấy: đến thời cánh chung, vũ trụ sẽ trải qua những cơn chấn động khủng khiếp như thế nào… Tôi lắng nghe: Từ dưới bàn thờ Thiên Chúa, tiếng những người bị giết vọng lên rằng: Sao Chúa không đòi nợ máu của chúng con? và họ nhận ra tiếng Chúa đáp lời: Cứ nghỉ yên một thời gian ngắn nữa, chờ cho đủ số những người anh em của các con.
 
Hằng giữ mãi niềm vui vì được làm con Chúa, thông dự vào hy tế của Đức Kitô và tưởng nhớ đến Người, như trong bài đọc hai Kinh Sách, sách Minh Giáo Quyển I của thánh Giúttinô: Việc cử hành hy lễ tạ ơn… Khi Đức Giêsu sắp phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha, Người thiết lập Bí Tích Mình và Máu Người, để các tín hữu tưởng niệm cái chết của Người. Người ban Mình Người làm của ăn, ban Máu Người làm của uống. Người truyền cho môn đệ: Anh em hãy làm như Thầy mới làm, để tưởng nhớ đến Thầy.
 
Hằng giữ mãi niềm vui vì được làm con Chúa, tìm nương ẩn nơi Chúa, như trong bài đọc một Thánh Lễ, trích sách Công Vụ Tông Đồ: Cái chết không tài nào khống chế được Người mãi. Trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 15: Lạy Chúa, Chúa sẽ dạy con biết đường về cõi sống. Lạy Chúa Trời, xin giữ gìn con, vì bên Ngài, con đang ẩn náu. Con thưa cùng Chúa: Ngài là Chúa con thờ. Chúa là phần sản nghiệp con được hưởng, là chén phúc lộc dành cho con; số mạng con, chính Ngài nắm giữ. Trong bài đọc hai Thánh Lễ, trích thư thứ nhất của thánh Phêrô: Anh em đã được cứu chuộc nhờ bửu huyết của Con Chiên vẹn toàn là Đức Kitô.
 
Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Lạy Chúa Giêsu, xin mở trí cho chúng con hiểu lời Kinh Thánh, và khi Chúa phán dạy, xin đốt lòng chúng con cháy lửa nồng nàn. Trong bài Tin Mừng, thánh Luca tường thuật: Họ đã nhận ra Chúa khi Người bẻ bánh. Các môn đệ đã nhận ra Chúa Giêsu, khi Người bẻ bánh. Cả trái đất, nào tung hô Thiên Chúa, đàn hát lên, mừng danh thánh rạng ngời, hãy dâng Người lời ca tụng tôn vinh, vì Thiên Chúa đã làm cho Đức Giêsu sống lại, giải thoát Người khỏi những đau khổ của cái chết, cái chết không tài nào khống chế được Người mãi. Vì thế, tâm hồn con mừng rỡ, và lòng dạ hân hoan, thân xác con cũng nghỉ ngơi an toàn. Vì Chúa chẳng đành bỏ mặc con trong cõi âm ty, không để kẻ hiếu trung này hư nát trong phần mộ. Chúa sẽ dạy con biết đường về cõi sống. Chúng ta đã được cứu chuộc nhờ bửu huyết của Con Chiên vẹn toàn, vô tỳ tích, là Đức Kitô. Khi đồng bàn với hai môn đệ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ. Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người. Khi Đức Giêsu sắp phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha, Người thiết lập Bí Tích Mình và Máu Người, để các tín hữu tưởng niệm cái chết của Người. Người ban Mình Người làm của ăn, ban Máu Người làm của uống. Người truyền cho môn đệ: hãy làm như Người đã làm, để tưởng nhớ đến Người, cho tới khi Người lại đến. Khi nào đến? Khi Con Chiên mở ấn thứ năm, thì, linh hồn của những người đã bị giết vì đã rao giảng Lời Thiên Chúa và đã làm chứng đòi Chúa xét xử, nhưng, có lời phán bảo họ: cứ nghỉ yên một thời gian ngắn nữa. Nhờ Mầu Nhiệm Vượt Qua, Chúa đã làm cho tâm hồn ta tươi trẻ lại, và chan chứa niềm vui vì được làm con Chúa, ước gì ta hằng giữ mãi niềm vui Chúa ban, và nắm chắc hy vọng được phục sinh vinh hiển. Ước gì được như thế!

Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB

===============

 CÓ CHÚA CÙNG ĐI

Buổi chiều ngày Chúa phục sinh, hai môn đệ thất thểu trên đường bỏ về quê Emmaus, lòng đầy thất vọng, buồn sầu, miệng thì nguyên chuyện thời sự nóng hổi về cái chết oan nghiệt của Thầy Giêsu. Đang trò chuyện về Thầy, thì chính Đức Giêsu “nhập đoàn” trên đường đi. Làm sao hai ông có thể nhận ra, vì Thầy đã chết rồi và đối với các ông lúc này Thầy vẫn là “đang chết”. Chúa phục sinh nhẹ nhàng, không rung động trời đất, nên nghe mấy người nói mà các ông bỏ ngoài tai, chả còn gì để mà hy vọng hiển trị với Thầy. Đang chán chường thì Thầy “đóng kịch” mào đầu câu chuyện: “Các ông vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy?” Họ buồn mà kêu ông là người duy nhất không biết chuyện tày trời xảy ra trong thành mấy hôm nay. Thầy cứ nhẹ nhàng xen vào chuyện của các ông mà hỏi tiếp, thế là các ông thành thật kể một lô cho Thầy rõ chuyện. Lúc này vị khách lạ mới giũa giã: “Các anh chẳng hiểu gì cả! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ. Nào Đấng Kitô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao?” (Chính con đây cũng được mở mắt, à ra mà thay đổi cái nhìn về đau khổ bệnh tật của mình với chính lời này của Chúa). Rồi các ông được nghe chính Chúa giải thích những gì liên quan đến Người trong Sách Thánh. Quả thật khi tiếp cận với Lời hằng sống, chính Lời sẽ cho con gặp được Chúa. Khi con biết “lắng nghe”, chính Lời sẽ cho con “thấy” và được thêm sức sống dồi dào.
Ba người cùng đi hết đoạn đường, Người khách lạ giả vờ còn phải đi tiếp xa hơn. Nhưng sao gần gũi thân thương quá chẳng muốn rời! “say mê” rồi! Họ nài ép Người “ở lại” với họ. Khi đồng bàn với họ, Người làm những cử chỉ y như mấy hôm trước trong bữa tiệc ly. Mắt họ bừng mở nhận ra, thì Người lại biến mất. Thảo nào, họ nhớ lại những giờ được lắng nghe lời Người và nhìn nhận: “Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao?” Quả thực Lời Ngài làm chứa chan hy vọng, Lời Ngài đượm chất ngất niềm vui khi con biết sống trong Lời. Khi tham dự lễ bẻ bánh, nơi Bí tích Thánh Thể làm cho con “thấy” được Chúa. Thánh Thể Chúa làm tim con tan chảy, mắt con chan chứa giọt lệ mừng vì tình Chúa ôi tuyệt vời!
Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh, xin cho con luôn nhận ra luôn có Chúa cùng đi với con trên mọi nẻo đường đời, thật nhẹ nhàng, ẩn mình nhưng thật khéo léo. Xin cho con biết say mê Lời Chúa và Thánh Thể Chúa, để từ đây con hân hoan trở về với Giêrusalem của lòng con, của người thân bạn bè, cộng đoàn, giữa lòng xã hội mà loan truyền, kể lại tất cả những gì con đã thấy, những điều tuyệt vời Chúa đã làm cho cuộc đời nhiều khi mệt mỏi gian lao của con. Amen.

                                                           Én Nhỏ 

==================

HÀNH TRÌNH EM-MAU

Kính thưa quý cộng đoàn Phụng Vụ! Nhìn lại ba năm về trước, vào thời điểm này, cả thế giới đang chống chọi với cơn đại dịch cô-vi. Và trong thời gian bệnh dịch bùng phát, Thánh lễ nhiều nơi trên thế giới, những sinh hoạt chung giáo xứ vẫn còn bị đình chỉ! Dù trong một bức tranh u ám như vậy chăng nữa, Chúa Phục Sinh đã chiếu sáng vào chốn tối tăm, chiếu soi vào cõi lòng nhân loại, và tỏ rạng ánh vinh quang của Ngài nơi tâm hồn chúng ta. Vì thế, cùng cảm nghiệm ngày xưa của hai môn đệ trên đường về làng Em-mau, chúng ta cùng suy gẫm đôi điều về các bài đọc Phụng Vụ hôm nay.

          Nếu ví cuộc đời của chúng ta là một bộ phim nhiều tập, thì hơn ai hết là người Ki-tô hữu, chúng ta biết rõ cuốn phim này kết thúc ra sao rồi. Mà nếu ví cuộc đời của chúng ta là cuốn tiểu thuyết thì chắc chắn chúng ta cũng đã biết kết cuộc thế nào. Vì chưng, Chúa Ki-tô đã chịu chết trên thập giá, nhưng Người đã sống lại, chiến thắng sự chết, và đây chính là điều tối hậu của cuộc đời Ki-tô hữu chúng ta, đức tin của chúng ta; cụ thể được minh chứng rõ nét trong đoạn sách Công Vụ Tông Đồ “vì Chúa không để linh hồn tôi trong cõi chết, và không để Đấng Thánh của Chúa thấy sự hư nát. Chúa đã cho tôi biết con đường sự sống và cho tôi đầy hân hoan tận hưởng nhan thánh Chúa” (Cv 2, 28). Chúng ta có thể thất vọng với chính bản thân mình, với những người xung quanh, với kỳ vọng của chúng ta; nhưng Thiên Chúa không bao giờ làm chúng ta thất vọng, nếu chúng ta biết trông cậy và tín thác nơi Người.

          Chính nhờ niềm tin này, mà chúng ta nên ra công tìm kiếm và thực thi ý Chúa hơn là ước muốn của thế gian hay của chúng ta. Về điểm này, lời Chúa trong thư của Thánh Phê-rô Tông Đồ vang vọng trong chúng ta, “…không phải nhờ những thứ chóng hư nát như vàng hay bạc mà anh em đã được cứu thoát khỏi lối sống phù phiếm…Nhưng anh em đã được cứu chuộc nhờ bửu huyết của Con Chiên vẹn toàn, vô tỳ tích, là Đức Ki-tô” (x. 1Pr 1, 18 - 19). Tuy nhiên, thực tế cho chúng ta nhận ra, chúng ta đã - đang sống ngược lại với những gì Thánh nhân dạy. Trong lịch sử, mỗi khi các cơn đại dịch xảy ra, thì con người thường ăn năn, sám hối ít nhiều, trở về với Thiên Chúa, chạy tới kêu xin Người thương xót. Nhưng nay thì khác, đại dịch cô-vi bùng phát, người ta lại hối hả mua đồ tích trữ, vơ vét hết những thứ nhu yếu phẩm, chỉ biết lo cho bản thân mà không mảy may nghĩ đến người khác cũng đang cần như mình! Giữa đại dịch, thay vì dành nhiều thời gian để nhìn lại bản thân, nhìn lại cuộc sống làm người, nhìn lại đời sống Ki-tô hữu…thì không ít chúng ta chỉ nơm nớp lo sợ, hoảng loạn! Giữa đại dịch, thay vì dành nhiều cơ hội để cầu nguyện, để gần gũi Chúa, gần gũi với anh chị em trong gia đình hơn, thì chúng ta lại vẫn ‘ngựa quen đường cũ’ tụ tập trong nhà ăn nhậu, bày ra nhiều trò tiêu khiển khác. Giữa cơn đại dịch, thay vì loan truyền tin mừng, tin hy vọng, khuyến khích động viên, cảm thông hơn với nhau, thì chúng ta chỉ biết lợi nhuận cá nhân mà đẩy giá mặt hàng trên mạng! Chúng ta được cứu thoát nhờ Máu châu báu của Con Chúa, chứ không phải được cứu rỗi bằng nén vàng, thỏi bạc, châu sa, hạt lựu! Vì thế, chúng ta nên sống và làm chứng với ơn sủng được Chúa cứu độ.

          Mặc khác, khi nhìn lại khung cảnh toàn thế giới đang oằn mình chống chọi với cơn đại dịch cô-vi, và mỗi ngày phải nhìn thấy những dòng tít lớn trên báo mạng về thảm hoạ dịch bệnh, khiến chúng ta rùng mình, bi quan, buồn bã, thất vọng và có khi nghi ngờ ‘Thiên Chúa còn là Đấng luôn yêu thương, giàu lòng thương xót’? Thậm chí, còn nghĩ ‘Chúa đang trừng phạt nhân loại’ qua cơn đại dịch này chăng? Thật ra, Thiên Chúa mà Chúa Giê-su loan báo cho chúng ta, và là hiện thân qua Con Một Người không phải Đấng ưa thích trừng trị, sát phạt, mà là ‘Đấng giàu lòng xót thương, chậm bất bình, và rất mực khoan dung’ (Tv 103, 8), là ‘Đấng không muốn kẻ gian ác, tội lỗi phải chết, nhưng muốn nó ăn năn sám hối và được sống’ (Ez 18, 23). Sự dữ, sự ác đều do tội lỗi con người, do tính kiêu căng, cao ngạo của con người mà ra; và vì con người tự mình gây ra nên phải gánh hậu quả là điều tất yếu. Tuy nhiên, Thiên Chúa không bỏ mặc, và luôn gửi thông điệp đến với chúng ta trong tâm hồn, qua những biến cố thời đại giúp chúng ta quay về với Người, v.v…Hơn nữa, chỉ có một mình Thiên Chúa mới cứu thoát con người ra khỏi vòng luẩn quẩn này, và chỉ mình Người mới có thể biến sự dữ thành sự lành, biến sự ác thành sự thiện mà thôi, ‘duy chỉ Thiên Chúa viết đường thẳng trên những đường cong’ (theo Thánh Âu-gus-ti-nô). Trong nỗi thất vọng dường như tuyệt vọng ‘Thiên Chúa bỏ quên chúng ta’ này cũng là cảm nghiệm của hai môn đệ đã bỏ Giê-ru-sa-lem mà về làng Em-mau. Vì buồn sầu thê thảm, mọi thứ dường như sụp đổ trước mắt họ, nên họ đành bỏ nơi mà họ từng hăng hái, đầy nhiệt huyết bước theo chân Thầy Giê-su, cùng Người bôn ba khắp chốn, được nghe Người giảng dạy và chứng kiến biết bao điều kỳ lạ, để trở về nơi chốn xưa, nơi mà hai ông sống trước khi được gặp Thầy Giê-su! Trong nỗi thất vọng ê chề này, có thể nói: hai ông đã trốn chạy, bỏ lại đằng sau những gì bi thương xảy ra tại Giê-ru-sa-lem ‘Thầy Giê-su chịu kết án, chết nhục nhã trên thập giá’. Nhưng nỗi sầu này đâu phải chỉ dừng tại đây, mà ‘sau ngày thứ ba, Người sẽ trỗi dậy từ cõi chết’ như hai ông đã từng được nghe khi còn theo chân Thầy Giê-su. Và trong nỗi u buồn lê bước trở về làng Em-mau, với suy nghĩ ‘Thiên Chúa đã bỏ mặc Thầy Giê-su’ hoặc ‘Thiên Chúa đã bỏ mặc chúng ta’, thì chính lúc này, Thiên Chúa lại gần gũi hai ông hơn bao giờ hết “đang lúc trò chuyện và bàn tán, thì chính Đức Giê-su tiến gần và cùng đi với họ” (Lc 24, 15). Không những thế, Người còn giải thích Kinh Thánh cặn kẽ, mở trí lòng cho hai ông, mà còn tỏ cho hai ông thấy hành động bẻ bánh trong bữa tiệc ly trong đêm trước khi Người chịu khổ nạn. Và khi nghiệm lại tất cả biến cố trên đường đi, hai ông đã nhận ra “dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao?” (Lc 24, 32). Nói cách khác, Chúa Ki-tô Phục Sinh đã đồng hành với họ trong nỗi thất vọng, Chúa Ki-tô Phục Sinh thổi bùng lên ngọn lửa nhiệt huyết của họ đã tắt khi trên đường về quê, Chúa Ki-tô Phục Sinh đã ban cho họ niềm vui của Ngài hầu xua tan bao nỗi bất an, nặng trĩu đang ẩn sâu trong tâm hồn họ.

          Với cảm nghiệm của hai môn đệ làng Em-mau, chúng ta cùng nhau xác tín rằng: Chúa Ki-tô Phục Sinh đang cùng sánh bước với chúng ta trên cuộc hành trình lữ thứ đầy chông gai này. Người đang nói với chúng ta qua mỗi giờ kinh nguyện sốt sắng. Người hiện diện, đỡ nâng, nuôi dưỡng chúng ta qua Thánh Lễ hằng ngày. Người hướng dẫn, chỉ lối chúng ta qua Giáo Hội của Người. Trong niềm cậy trông tín thác Chúa Ki-tô Phục Sinh, chúng ta dâng lời cảm tạ:

          Chúa đã chịu chết cho nhân loại

          Chúa đã sống lại trong vinh quang

          Chúa hằng chuyển cầu cho chúng con

          Chúa luôn đồng hành với chúng con

          Amen! Al-lê-lui-a, Al-lê-lui-a!

 

            Lm. Xuân Hy Vọng

==================

NHẬN RA CHÚA PHỤC SINH TRONG LỜI CHÚA VÀ THÁNH THỂ

Trong hành trình đức tin, có những lúc chúng ta cảm thấy mệt mỏi, thất vọng và dường như mất hướng đi. Chúng ta tự hỏi: Chúa có thật sự đang hiện diện và đồng hành với mình không?

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay đưa chúng ta trở về với kinh nghiệm rất thật của hai môn đệ trên đường Em-mau, những người đã từng hy vọng, nhưng rồi thất vọng; từng tin tưởng, đến lúc hoang mang. Tin Mừng Lu-ca mô tả, tâm trạng của hai ông buồn thảm bỏ cuộc về quê trong khung cảnh bóng ngả chiều tà, ngày sắp tàn, bóng tối đang bao phủ không gian. Nhưng chính lúc ấy, Chúa Giê-su Phục Sinh đã đến, đồng hành và biến đổi họ. Chứng tỏ, Chúa không vắng mặt, nhưng luôn hiện diện trong Lời Chúa, trong Thánh Thể, và trong chính hành trình đời sống của mỗi người chúng ta.

Chúa Phục Sinh, niềm hy vọng của chúng ta

Bài đọc trích sách Tông đồ Công vụ (Cv 2,14.22-32) thuật lại việc Phê-rô đứng trước dân chúng Giê-ru-sa-lem, nhân lễ Ngũ Tuần, công bố rằng, “Đức Giê-su Na-da-rét là người đã được Thiên Chúa chứng nhận bằng những việc vĩ đại, những điều kỳ diệu và phép lạ” (x.Cv 2,22). Dù bị nộp và đóng đinh, “Thiên Chúa đã giải thoát Người khỏi những đau khổ của cõi chết” (x. Cv 2,24). Câu nói: “không thể nào để cho Người bị cầm giữ trong cõi chết” nhấn mạnh rằng quyền năng Thiên Chúa vượt trên mọi thất bại, đau khổ và bất công.

Chúa Phục Sinh là niềm hy vọng sống cho nhân loại hôm nay. Trong thế giới hiện đại, nhiều người cảm thấy chán nản trước bạo lực, chiến tranh, hay những bất công xã hội. Thánh Phao-lô nhắc nhở rằng, quyền năng Thiên Chúa vượt trên mọi hoàn cảnh, hay như Thánh Au-gút-ti-nô nói: “Ai đặt niềm tin vào Chúa Phục Sinh sẽ không bao giờ thất vọng”. Niềm hy vọng này không hời hợt, nhưng chắc chắn rằng Thiên Chúa đã chiến thắng sự chết và mở ra đời sống mới cho chúng ta.

Máu Chúa Ki-tô là giá cứu chuộc

Theo thánh Phê-rô thì ơn cứu chuộc không dựa vào của cải vật chất hay những hình thức tôn giáo bên ngoài: “Anh em biết rằng không phải bằng vàng bạc hay hư nát mà được cứu chuộc… nhưng bằng máu châu báu của Đức Ki-tô, Con Chiên tinh tuyền” (x.1 Pr 1,18-19). Máu Chúa Giê-su là hy tế trọn vẹn, vô giá, nhờ đó chúng ta được rửa sạch tội lỗi, đặt niềm tin và hy vọng vào Thiên Chúa, sống đời sống thánh thiện giữa thế gian.

Như Thánh Au-gút-ti-nô viết: “Chúa Ki-tô là Con Chiên Thiên Chúa, nhờ máu Ngài chúng ta được cứu chuộc và trở thành dân của Ngài” (De Trinitate, 15,3). Đức cố Giáo Hoàng Bê-nê-đíc-tô XVI cũng nhấn mạnh: “Thánh Thể là khoảnh khắc Chúa Giê-su hiện diện sống động giữa chúng ta; nhờ đó Ngài biến đổi chúng ta để sống theo tình yêu” (Sacramentum Caritatis, 6).

Giữa những khổ đau, hay bất công, chúng ta được mời gọi sống lòng biết ơn Chúa, tuân giữ Lời Người, và để hy tế của Người biến đổi đời sống. Máu châu báu Chúa Ki-tô không chỉ là ký ức lịch sử, mà là sức mạnh nội tâm giúp chúng ta kiên trung, sống công bằng, bác ái trước những thử thách của thời đại.

Nhận ra Chúa trong Lời và Thánh Thể

Chúng ta hình dung ra dáng đi, vẻ mặt và tâm tình của hai người đang bỏ cuộc như thế nào. Giữa bóng đêm của ngày đang qua và bóng tối đang phủ kín tâm trí họ, Chúa Giê-su Phục Sinh hiện ra đồng hành và “giải thích Kinh Thánh… bắt đầu từ Mô-sê và các tiên tri” (x. Lc 24, 27), làm cho tâm hồn họ “bừng cháy”. Chúa đã nhóm lên một tia sáng, khơi lên niềm hy vọng, đưa họ ra khỏi bóng tối của buồn phiền và thất vọng, thức tỉnh lòng họ khao khát muốn được ở gần Người, khiến họ nài ép: “Mời ông ở lại với chúng tôivới lý do “vì trời đã về chiều và ngày sắp tàn” (Lc 24, 29).

Họ không bao giờ nghĩ rằng người khách lạ ấy là chính Thầy mình sống lại. Với một hành vi “bẻ bánh” đơn giản trong bữa ăn (Lc 24, 35), trí khôn được soi sáng, con tim được đốt nóng, những dấu chỉ bắt đầu gợi lên lòng sốt mến và thôi thúc họ “chỗi dậy trở về Giêrusalem” (Lc  24, 33).

Hình ảnh bẻ bánh là biểu tượng Thánh Thể, nơi Chúa Giê-su hiện diện sống động. Nhận ra Người trong Lời và Thánh Thể là cốt lõi đời sống Ki-tô hữu. Đức cố Giáo Hoàng Phan-xi-cô nhắc: “Khi tham dự Thánh Thể, chúng ta được mời gọi nhận ra Chúa Giê-su không chỉ trong bánh và rượu, mà trong anh chị em đang cần tình yêu và sự giúp đỡ của chúng ta” (Evangelii Gaudium, 276).

Sau khi nhận ra Chúa, hai môn không giữ niềm vui phục sinh cho riêng mình, mà chia sẻ với cộng đoàn. Đây là sứ vụ của mọi Ki-tô hữu hôm nay: nhận ra Chúa trong đời sống hằng ngày, rồi mang niềm vui và hy vọng phục sinh đến cho người khác, nhất là những ai đang cô đơn, đau khổ, hay thất vọng.

Câu chuyện Em-mau mời gọi chúng ta: Đừng chỉ nhìn vào thất bại hay nỗi buồn; Chúa vẫn đồng hành. Hãy lắng nghe Lời Chúa và tham dự Thánh Thể để nhận ra Chúa và được biến đổi.

Như hai môn đệ Em-mau, chúng ta được mời hãy để Lời Chúa và Thánh Thể soi sáng, nâng đỡ và biến đổi chúng ta, để mỗi hành động yêu thương, phục vụ, và hy vọng của chúng ta trở thành dấu chỉ sống động cho sự hiện diện của Chúa Phục Sinh giữa thế giới hôm nay.

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

==================

KHI CON TIM BỪNG CHÁY LẠI
Chúa Nhật III Phục Sinh năm A – Lc 24,13-35
Suy niệm
Sau thảm kịch thập giá, các môn đệ hầu như đã hoàn toàn vỡ mộng. “Chúng tôi đã hy vọng…” (c.21). Niềm hy vọng về một cuộc giải phóng Israel chưa đi tới đâu thì Thầy đã chết. Giấc mơ công hầu khanh tướng của các ông cũng tiêu tan. Họ tưởng đi theo Thầy là nắm chắc tương lai tươi sáng, nhưng rồi cuối cùng chẳng có gì và chẳng còn gì, chỉ còn thất bại và ô nhục trước mặt người đời. Tương lai mịt mờ như bóng chiều tà trên đường Emmau. Hai môn đệ lê bước về quê xưa, quay lại với cuộc sống cũ, xem như mọi sự đã qua chỉ là phù du.
1. Người khác lạ đồng hành
“Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy?” (c.17) Chúa Giêsu Phục Sinh dưới dáng dấp một người khách lạ, đã âm thầm đến bên cạnh họ. Chúa trở nên người bạn đồng hành, mở lời gợi lại câu chuyện của họ. Họ trả lời lạnh nhạt với thái độ thiếu thiện cảm: “Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giêrusalem mà không hay biết… (c.18) Chúa Giêsu vẫn ôn tồn và kiên nhẫn lắng nghe.
Họ kể lại với tâm trạng uất ức, không biết tại sao một một ngôn sứ đầy uy thế, một người mà họ tin là Đức Kitô, và vẫn hy vọng rằng chính Người sẽ cứu chuộc Israel, mà lại bị các thượng tế và thủ lãnh bắt đem ra xử án, hành hình và bị đóng đinh như một kẻ bị Thiên Chúa chúc dữ.
Tuy nhiên, hai ông cũng cho người khách lạ biết là có mấy người đàn bà trong nhóm đã ra mộ hồi sáng sớm, không thấy xác Người đâu, nhưng nói là đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng Người vẫn sống. Họ kinh ngạc, nhưng dù sao thì họ đã chứng kiến là Thầy đã thảm thương.
2. Vén mở sự thật
“Các anh chẳng hiểu gì cả! (c.25) Nghe xong câu chuyện, Đức Giêsu nhẹ nhàng trách họ không hiểu gì, và lòng trí họ cũng chậm tin vào lời các ngôn sứ đã báo trước về Đấng Kitô. Ngài dần dần vén mở cho họ thấy ý nghĩa mầu nhiệm của đau khổ, là chặng đường mà Ðức Kitô phải vượt qua để đi tới đích điểm vinh quang.
Ðau khổ không hẳn là chuyện rủi ro hay bất hạnh, nhưng nó có chỗ trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Người cũng lần giở Kinh Thánh để giải thích cho hai ông hiểu những gì liên quan đến Người. Lời giải thích của Đức Giêsu là Tin Mừng có sức thuyết phục mạnh mẽ, khiến nỗi đau của họ dịu đi, lòng họ nồng ấm lên. Người đã thắp sáng lại niềm tin của họ, một niềm tin đã bị phủ lấp do biến cố đau thương, nên cũng che lấp sự hiện của Người đang đi bên cạnh họ.
3. Nhận ra Chúa Phục Sinh
“Khi Người bẻ bánh, mắt họ liền mở ra” (c.31) Thế rồi trong bữa ăn chiều, “khi đồng bàn với họ”, Ngài cầm bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ”. Đức Giêsu lập lại chính hành động trong Bữa Tiệc Ly. Đây không phải là nghi thức, mà là mầu nhiệm Thánh Thể – cử chỉ của một Đấng trao ban chính mình.  
Lập tức họ nhận ra ngay vị khách lạ này chính là Thầy Giêsu. Lúc đó họ mới nhớ lại lúc đi dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao ?” (c.32) Thế là “Họ liền đứng dậy, quay trở lại Giêrusalem” (c.33) để báo tin mừng cho các môn đệ khác.
4. Chúa Phục Sinh trên hành trình đời ta
Ðấng Phục Sinh vẫn đến với mỗi người chúng ta hôm nay qua một người bạn hay một người khách lạ mà ta tình cờ gặp gỡ. Qua họ, Chúa mời ta xem xét lại sự hiểu biết còn nông cạn và dang dở của mình. Qua đó Chúa thay đổi cái nhìn và khơi lên niềm hy vọng nơi chúng ta. Người vẫn đến với chúng ta từng ngày và từng biến cố vui buồn trong cuộc sống. Nhất là trong từng thánh lễ, Người đích thân giảng Tin Mừng và bẻ bánh trao cho ta chính Mình Người.
Kết
Nhận ra Chúa trong cuộc đời, ta hãy tập đến với tha nhân, tập đồng hành, tập gợi ý, tập lắng nghe, tập soi sáng cho những trăn trở và bế tắc của anh chị em. Đừng quá bận tâm về bản thân đến nỗi không còn thời giờ dành cho người khác. Sống như vậy ta sẽ rất cô đơn và lạc loài, vì không nói lên được tình yêu là điều cốt yếu để sống hiệp thông với Chúa và mọi người. Cứ hãy mở ra, hãy hướng tới, hãy sống đẹp cuộc đời mình và đồng thời giúp người khác sống đẹp cuộc đời họ. Đó mới chính là cuộc đời Kitô hữu mà Chúa Phục Sinh muốn làm nên.
Cầu nguyện
Lạy Chúa Giêsu!
Khi xưa trên con đường về Em-mau,
Chúa đã đến đồng hành với môn đệ,
khi họ đang chán nản về miền quê,
Chúa gợi chuyện và lắng nghe họ kể,
chia sớt những thất vọng thật ê chề.

Lòng họ nồng ấm lên trước lời Chúa,
nhận ra Ngài qua cử chỉ trao ban,
tim họ bao rộn ràng niềm vui sướng,
đi loan báo tin mừng Chúa phục sinh.

Đó cũng là kinh nghiệm của đời con,
có những lúc chán nản và buồn sầu,
gặp nguy nan mà chẳng thấy Chúa đâu,
ai ngờ rằng Chúa ở ngay bên cạnh.

Lúc buồn thương vẫn có Chúa đồng hành,
con quay quắt với mình mà không biết,
Chúa viếng thăm vào lúc con không ngờ,
Chúa ngay bên càng làm con bỡ ngỡ.

Bao nghi ngờ trong con không còn nữa,
và lòng con bừng sáng lửa mến tin,
để từ đây cuộc sống mới khởi đầu,
con vững bước an vui và phấn đấu.

Chúa yêu thương làm lòng con tan chảy,
Chúa hiện diện làm hết thảy sáng lên,
dù cuộc sống vẫn có những bấp bênh,
nhưng lòng con trung tín mãi vững bền.

Xin giúp con trở nên người đồng hành,
luôn sát cánh với hết mọi anh em,
biết khơi sáng cho nhau niềm hy vọng,
để Chúa đến lấp đầy nỗi khát mong. Amen.

Lm. Thái Nguyên

=================

TỪ BỐI RỐI ĐẾN HY VỌNG VÀ TRỞ THÀNH CHỨNG NHÂN

1. Cuộc tháo chạy của những tâm hồn tan vỡ
Trình thuật về hai môn đệ trên đường Emmau mở đầu bằng một hình ảnh đầy u ám: hai người đàn ông lầm lũi rời bỏ Giêrusalem ngay ngày thứ nhất trong tuần. Giêrusalem lúc bấy giờ đối với họ không còn là thành thánh, mà là nơi của những cơn ác mộng, nơi chôn giấu niềm hy vọng sau cái chết của Thầy mình trên Thập giá. Vấn đề của hai môn đệ không chỉ là nỗi buồn mất đi một người thầy, mà là sự sụp đổ của một niềm tin. Bởi vì họ từng mong đợi một Đức Giêsu uy quyền sẽ giải phóng dân tộc theo nghĩa trần thế. Nhưng khi chứng kiến Ngài chết nhục nhã, họ cảm thấy mọi sự đã chấm dứt. Câu nói: "Chúng tôi vẫn hy vọng Ngài là Đấng sẽ cứu chuộc Israel" nghe thật xót xa, vì lời nói ấy mang nặng sự nuối tiếc về một điều họ cho rằng đã thuộc về quá khứ, một niềm tin đã chết dọc đường.
2. Lòng bừng cháy và niềm hy vọng được cứu độ
Dù hai môn đệ có ý định rời xa Chúa, nhưng Chúa không bao giờ rời xa họ. Ngài chủ động tiến đến, cùng đi và cùng lắng nghe. Ngài đã dùng hai "nguồn sức mạnh" quan trọng để chữa lành tâm hồn đang hoang mang của họ. Trước hết, Đức Giêsu soi sáng họ bằng Lời Chúa. Ngài bắt đầu giải thích Kinh Thánh cho họ, ngõ hầu giúp họ thấy rằng đau khổ và Thập giá không phải là một sự cố ngoài ý muốn, mà là con đường dẫn đến sự sống theo thánh ý Thiên Chúa. Khi hiểu ra chân lý này, gánh nặng trong lòng họ được giải tỏa dần. Chính họ sau này đã thừa nhận: "Lòng chúng ta đã chẳng cháy bừng lên khi Ngài nói chuyện với chúng ta đó sao?". Lời Chúa lúc này không còn là những con chữ khô khan, mà là ngọn lửa sưởi ấm trái tim đang nguội lạnh nơi các ông. Tiếp đến là cuộc gặp gỡ qua Bí tích Thánh Thể. Điểm cao nhất của câu chuyện là bữa ăn tại Emmau. Khi Chúa Giêsu thực hiện các cử chỉ: Cầm lấy bánh, chúc tụng, bẻ ra và trao cho họ, ngay lập tức mắt họ mở ra. Đây không phải là một bữa ăn thông thường, mà là sự tiếp nối của mầu nhiệm Tiệc Ly. Qua đó, Chúa Giêsu muốn dạy các môn đệ rằng: Ngài không còn ở lại với các ông bằng hình dạng thể lý, nhưng Ngài hiện diện thực sự và trọn vẹn trong Bí tích Thánh Thể. Chỉ qua việc hiệp thông này, các ông mới có thể nhận ra Thầy mình một cách đích thực nhất và niềm hy vọng cứu độ được khai mở.
3. Đổi hướng cuộc đời và lên đường làm chứng
Cuộc gặp gỡ với Đấng Phục Sinh đã dẫn đến một sự biến đổi triệt để. Hai môn đệ không còn mệt mỏi, không còn sợ bóng đêm. Họ lập tức đứng dậy quay trở lại Giêrusalem để báo tin cho cộng đoàn. Trong đời sống đạo hôm nay, chúng ta cũng thường có những cuộc "tháo chạy" như thế. Khi công việc làm ăn thất bại, gia đình đổ vỡ, hay khi lời cầu nguyện dường như chưa được Chúa nhận lời, ta cũng muốn rời bỏ giáo xứ, rời bỏ hội đoàn và nhất là rời bỏ đời sống đức tin để sống một cuộc sống vô định hay đi tìm một định hướng mới cho cuộc đời… Lý do khiến chúng ta thất vọng vì Chúa không hành động theo ý mình, và thế là đôi mắt tâm hồn bị che lấp, không còn nhận ra Chúa đang đi bên cạnh mình. Tuy nhiên, dưới ánh sáng Lời Chúa mặc khải trong bài Tin Mừng hôm nay cho các môn đệ, thì cũng là mặc khải cho chính chúng ta và mời gọi chúng ta tìm về nguồn mạch Lời Chúa và Thánh lễ, nhất là nơi Bí tích Thánh Thể để mỗi khi cảm thấy đức tin xuống dốc, chúng ta đừng đi tìm sự an ủi ở những thú vui trần thế. Hãy trở về với Kinh Thánh và bàn tiệc Thánh Thể. Chỉ có Lời Chúa mới giải đáp được những u uẩn của cuộc đời, và chỉ có Thánh Thể Người mới đủ sức bổ dưỡng cho linh hồn chúng ta. Đừng đi lễ như một thói quen, nhưng hãy đi để được Chúa "mở mắt" tâm hồn. Sau cùng là mời gọi trở thành những chứng nhân nhiệt thành. Hai môn đệ nằm trong số những người đầu tiên được vinh dự loan báo Tin Mừng Phục Sinh cho cộng đoàn các Tông đồ. Mỗi chúng ta sau khi kết thúc Thánh lễ cũng được sai đi như thế. Chúng ta được mời gọi mang niềm hy vọng về lại gia đình, nơi công sở hay xóm giềng. Đừng mang bộ mặt u sầu của kẻ thất bại, nhưng hãy mang niềm vui của người đã nhận ra Chúa đang sống và đang ở cùng mình.
Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh, xin hãy ở lại với chúng con, vì đời chúng con có những lúc “chiều tà u tối”. Xin cho chúng con biết khao khát Lời Chúa và yêu mến Thánh Thể, để từ những kẻ yếu đức tin, chúng con trở thành những chứng nhân can trường, luôn biết thắp lên ngọn lửa hy vọng cho thế giới hôm nay. Amen.

                                                                                                         Jos. Vinc. Ngọc Biển

===================
 

 

 
 
Thông tin khác:
 

 

 
 
 
 
Bài Giảng của Đức Cha Đaminh Hoàng Minh Tiến Trong Thánh Lễ Bế Mạc Năm Thánh 2025
Liên kết website

 

 

 

Tiêu điểm
Website giaophanhunghoa.org được phát triển bởi đơn vị thiết kế web: MIP™ (www.mip.vn - mCMS).
log