Thứ bảy, 25/04/2026

Chúa Nhật Phục Sinh - Năm A (Ga 20,1-9)

Cập nhật lúc 20:00 04/04/2026
 

Tin Mừng: Ga 20,1-9
Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết.


Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.
1 Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ. 2 Bà liền chạy về gặp ông Si-môn Phê-rô và người môn đệ Đức Giê-su thương mến. Bà nói: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu.”
3 Ông Phê-rô và môn đệ kia liền đi ra mộ. 4 Cả hai người cùng chạy. Nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phê-rô và đã tới mộ trước. 5 Ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào. 6 Ông Si-môn Phê-rô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, 7 và khăn che đầu Đức Giê-su. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. 8 Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin. 9 Thật vậy, trước đó, hai ông chưa hiểu rằng: theo Kinh Thánh, Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết.

 
==================
 
SUY NIỆM: Chúa Nhật Phục Sinh (Ga 20,1–9)

Đối với các môn đệ và những nhân chứng ban đầu của sự kiện Phục Sinh, buổi sáng hôm ấy không bắt đầu bằng tiếng hát khải hoàn, nhưng với những bối rối.

Maria Mađalêna ra mộ từ sáng sớm và thấy tảng đá đã lăn khỏi cửa mộ. Bà vội chạy về báo tin cho các môn đệ: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu.”

Phêrô và môn đệ kia lập tức chạy ra mộ. Họ thấy ngôi mộ trống trơn, khăn liệm còn đó, khăn che đầu được xếp riêng. Thánh Gioan kể lại: môn đệ kia bước vào, “ông đã thấy và đã tin.”

Chúng ta thấy các môn đệ đang đứng trước những “sự thật” dường như trái ngược nhau.

Một sự thật rất rõ ràng: Đức Giêsu - Thầy của các ông, đã chết thật.

Các môn đệ đã chứng kiến tất cả.

Họ thấy Thầy mình bị đóng đinh, thấy Người tắt thở trên thập giá.

Một người lính còn lấy giáo đâm vào cạnh sườn. Và từ hôm đó, không ai còn thấy Người nữa.

Đối với những môn đệ lúc bấy giờ, cái chết của Đức Giêsu là sự kiện không thể chối cãi, một sự thật nặng nề và thật khó chấp nhận.

Nhưng lại có những dấu hiệu khác khiến họ bối rối. Chính Đức Giêsu đã nhiều lần nói rằng: “Con Người sẽ bị giết nhưng ngày thứ ba sẽ sống lại.”

Rồi sáng hôm đó: ngôi mộ thì trống, khăn liệm, băng vải vẫn nằm đó, nhưng thân xác của Thầy thì biến mất. Hai sự thật ấy dường như trái ngược nhau, làm các ông rối bời. Nếu Đức Giêsu đã chết và kết thúc mọi sự, thì tại sao ngôi mộ lại trống không? Nhưng nếu Thầy đã sống lại, tại sao các ông vẫn chưa thấy Người?.

Chính trong sự bối rối đó mà niềm tin, và có thể nói là “sự nghi ngờ về Phục Sinh” bắt đầu nảy sinh.

Maria Mađalêna giải thích theo một cách rất tự nhiên: “Người ta đã lấy mất xác Chúa.” Đó là lý do đơn giản nhất, để giữ cho thế giới này vẫn hợp lý theo lập luận của nó. Phêrô thì nhận thấy nhiều dấu vết hơn, nhưng Tin Mừng không nói ông hiểu ngay. Còn “người môn đệ kia”, khi nhìn thấy những dấu hiệu ấy, ông bắt đầu tin.

Điều đáng suy gẫm là “người môn đệ kia”- Gioan, đã tin không phải vì ông trực tiếp thấy Chúa sống lại. Ông chỉ thấy ngôi mộ trống và những dấu vết còn lại. Nhưng chính qua những dấu vết ấy, ông “hồi tưởng” về Thầy, và nhận ra rằng Thiên Chúa đang thực hiện điều mà trước đây các ông chưa bao giờ dám hiểu.

Tin Mừng nói rõ: “hai ông chưa hiểu rằng: theo Kinh Thánh, Đức Giêsu phải trỗi dậy từ cõi chết.” Nghĩa là đức tin của các môn đệ, cần trải qua một hành trình, để có thể đón nhận sự kiện Phục Sinh. Từ sự bối rối, họ dần dần học cách đọc lại những gì đã xảy ra, dưới ánh sáng Lời Chúa, mà khi ấy chính là “Lời của Thầy”.

Kinh nghiệm đó không xa lạ với đời sống Kitô hữu hôm nay.

Thế giới dường như cũng đang tồn tại những thực tại trái ngược nhau. Chúng ta tin rằng Thiên Chúa yêu thương con người và Chúa Kitô đã chiến thắng sự chết. Nhưng trong thế giới này vẫn còn chiến tranh, đau khổ, bệnh tật và cái chết.

Chúng ta tin rằng sự sống mạnh hơn cái chết, nhưng hiện thực cuộc sống cho thấy sự chết dường như vẫn thắng thế. Đức tin Kitô giáo không dạy chúng ta phủ nhận những thực tại khó khăn ấy. Như xưa các môn đệ cũng không trối bỏ cái chết của Đức Giêsu. Họ biết Thầy mình đã chết thật. Nhưng dần dần họ khám phá ra rằng cái chết ấy không phải là tiếng nói cuối cùng.

“Ngôi mộ trống không” ngày Phục sinh, lại chứa đựng đầy ắp những “bằng chứng” cho một khởi đầu mới. Ở chỗ tưởng chừng như kết thúc tất cả, lại trở thành nơi khởi đầu cho niềm tin Phục Sinh.

Cuộc đời mỗi chúng ta cũng có những “ngôi mộ” như thế: thất bại, khổ đau, những điều tưởng chừng đã đóng lại mọi hy vọng. Nhưng Ánh Sáng Phục Sinh hôm nay mời gọi chúng ta nhìn những sự thật ấy bằng con mắt mới.

Các môn đệ chạy đến mộ, đã vào, đã nhìn, và cuối cùng họ bắt đầu tin. Đức tin không xuất hiện khi mọi sự đã rõ ràng, nhưng ngay giữa lúc mọi thứ còn đầy những hoài nghi.

Lễ Phục Sinh hôm nay cũng mời gọi chúng ta bước vào hành trình đó: dám nhìn vào thực tại của đời mình, nhưng không dừng lại ở con mắt thể lý mà với cả con mắt đức tin.

Ngôi mộ trống của buổi sáng hôm ấy vẫn không ngừng nói với chúng ta hôm nay: Thiên Chúa luôn có thể mở ra một khởi đầu mới, ngay cả trong những điều tưởng chừng như đã kết thúc.

Lạy Chúa Kitô Phục Sinh, xin Ánh Sánh của Chúa tiếp tục soi chiếu cho cuộc đời của mỗi người chúng con. Amen.
 

Fr. Silent Joseph

 
==================
 
TRỖI DẬY TỪ CÕI CHẾT
(CHÚA NHẬT PHỤC SINH NĂM A)
 
Qua Lời Tổng Nguyện của Chúa Nhật Phục Sinh Năm A này, các nhà phụng vụ muốn chúng ta ý thức rằng: Ngày hôm nay, Thánh Tử Giêsu đã đánh bại thần chết, khai đường mở lối cho chúng ta vào cuộc sống muôn đời. Chúng ta đang hoan hỷ mừng Người sống lại, xin Cha ban Thánh Thần làm cho chúng ta trở nên người mới, để sống một cuộc đời tràn ngập ánh sáng Đấng Phục Sinh.
 
Thánh Tử Giêsu đã đánh bại thần chết, mở lối cho ta vào cuộc sống muôn đời, như trong bài đọc một Kinh Sách, trích sách Xuất Hành: Con cái Ítraen đi vào giữa lòng biển ráo chân… Dưới ánh sáng Tin Mừng, Thiên Chúa đã cho thấy ý nghĩa những kỳ công mà Người đã thực hiện trong thời Cựu Ước: quả vậy, Biển Đỏ tượng trưng cho dòng nước thánh tẩy, và dân Dothái thoát cảnh nô lệ là hình ảnh của Dân Chúa ngày nay. Ước gì các dân tộc trên khắp địa cầu, nhờ lòng tin vào Chúa, được hưởng những đặc ân của Ítraen và được tái sinh khi lãnh nhận Thánh Thần.
 
Thánh Tử Giêsu đã đánh bại thần chết, ban Thánh Thần cho ta trở nên con người mới, như bài đọc hai Kinh Sách, trích sách ngôn sứ Êdêkien: Ta sẽ rảy nước thanh sạch trên các ngươi, và ban tặng các ngươi một quả tim mới… Chúa là sức mạnh vô biên, là ánh sáng muôn đời, Chúa đã đoái nhìn đến toàn thể Hội Thánh, và đã dùng Hội Thánh như Bí Tích Cứu Độ, để hoàn tất chương trình cứu rỗi muôn dân. Ước chi khắp địa cầu nghiệm thấy và nhìn nhận rằng: vạn vật suy vong được trỗi dậy, muôn loài già cỗi được đổi mới, và hết thảy được phục hồi nguyên vẹn như xưa, là nhờ Đức Kitô, căn nguyên của tất cả.
 
Thánh Tử Giêsu đã đánh bại thần chết, ta hãy sống một cuộc đời ngập tràn ánh sáng phục sinh, như trong bài đọc một Thánh Lễ, trích sách Công Vụ Tông Đồ: Chúng tôi đã được cùng ăn cùng uống với Người, sau khi Người từ cõi chết sống lại. Trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 117: Đây là ngày Chúa đã làm ra, nào ta hãy vui mừng hoan hỷ. Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương. Ítraen hãy nói lên rằng: muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương. Trong bài đọc hai Thánh Lễ, trích thư của thánh Phaolô tông đồ gửi tín hữu Côlôxê: Hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự.
 
Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Đức Kitô đã chịu hiến tế, làm Chiên Lễ Vượt Qua của chúng ta. Nào ta hãy hỷ hoan trong Chúa mà ăn mừng đại lễ. Trong bài Tin Mừng, thánh Gioan tường thuật: Hai ông chưa hiểu rằng: theo Kinh Thánh, Đức Giêsu phải trỗi dậy từ cõi chết. Đức Kitô đã chịu sát tế làm Chiên Lễ Vượt Qua của chúng ta. Vậy chúng ta hãy dùng bánh không men là lòng chân thật và tinh tuyền để ăn mừng đại lễ. Đức Giêsu xuất thân từ Nadarét, Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu tấn phong Người. Đi tới đâu là Người thi ân giáng phúc tới đó, và chữa lành mọi kẻ bị ma quỷ kiềm chế. Họ đã treo Người lên cây gỗ mà giết đi. Ngày thứ ba, Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy, và cho Người xuất hiện tỏ tường, trước mặt những chứng nhân Thiên Chúa đã tuyển chọn từ trước, những kẻ đã được cùng ăn cùng uống với Người, sau khi Người từ cõi chết sống lại. Phàm ai tin vào Người, thì sẽ nhờ danh Người mà được ơn tha tội. Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta. Chúng ta hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ, đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới. Thật vậy, chúng ta đã chết, và sự sống mới của chúng ta hiện đang tiềm tàng với Đức Kitô nơi Thiên Chúa. Ước gì ta biết hoan hỷ mừng Người sống lại, và nhờ ơn Chúa giúp, ta được trở nên người mới, để sống một cuộc đời tràn ngập ánh sáng Đấng Phục Sinh. Ước gì được như thế!

Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB

==================

 ÔNG ĐÃ THẤY VÀ ĐÃ TIN

Tin Mừng hôm nay trình thuật biến cố Phục Sinh theo thánh Gioan. Ông giấu tên và tự đặt cho mình biệt hiệu thần bí nhưng thật là dễ thương: “người môn đệ Đức Giêsu thương mến”.
Cái chết của Thầy Giêsu làm “cả thế giới” của các môn đệ và những người phụ nữ theo Thầy bị sụp đổ tan tành. Các ông thì thấy thất bại và chán chường. Các bà thì đứt ruột… khóc hết cả nước mắt! Nên sáng sớm ngày thứ ba lúc trời còn tối, phận nữ mà bà Maria Macđala đã liều ra thăm mộ. Lòng yêu mến Thầy của bà đã vượt lên nỗi sợ hãi.
Thoạt nghe bà Maria Macđala báo về ngôi mộ trống, hai môn đệ cùng “chạy” ra mộ. Bình thường người ta đi chứ không chạy, nhưng ở đây là việc nóng bỏng cấp thiết, tình yêu là động lực thúc đẩy bước chân người môn đệ. Cả Gioan và Phêrô cùng chạy nhưng Gioan chạy nhanh hơn. Có lẽ vì Gioan còn trẻ, nhưng đúng hơn là lòng yêu Thầy thúc đẩy và dồn nhanh bước chân ông không thể đặng đừng. Gioan là một trong ba môn đệ gần gũi Thầy mình nhất và được chứng kiến vinh quang cũng như khổ đau của Thầy, ông được tựa đầu vào ngực Thầy trong bữa tiệc sau hết và chỉ còn mình ông trong hàng môn đệ đứng dưới chân Thánh giá. Gioan là người đã có cảm nhận sâu sắc nhất về tình yêu của Đức Kitô vì chỉ có Ngài mới phát biểu một câu “định nghĩa” ngắn gọn nhưng thật đầy đủ: “Thiên Chúa là tình yêu”. Hôm nay trong biến cố Phục Sinh, bằng cảm nhận của tình yêu tha thiết, ông được “thấy” mầu nhiệm trọng đại và đã tin trước hết. Thật tế nhị khi ông “chiêm niệm trong lòng” đã, khiêm nhường để cho Phêrô vào trước mà chứng kiến sự việc, một mẫu gương cho Giáo Hội xưa nay.
Sau cái chết của Thầy, lòng yêu của ông còn canh cánh về đó. Cũng chính tình yêu làm cho ông nhạy cảm, nhận ra, luôn “thấy” và tin. Trong mầu nhiệm Phục Sinh, Gioan chỉ kết luận bằng một lời thú nhận rằng “ông đã thấy và đã tin”. Ông còn được mang danh hiệu “Người môn đệ Chúa đó!” Với tình yêu, ông có thể làm chứng cho Thầy cách chắc chắn về điều mình đã “thấy” và chiêm niệm: “Điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng, và tay chúng tôi đã chạm đến…” (1Ga 1,1).
Thánh Gioan đã “thấy và tin”. Ngày nay chúng con cần “tin để thấy”, để yêu. Chúa ơi! hôm nay chúng con thấy gì trong một tấm bánh trắng đơn sơ mỏng manh? Tấm Bánh ấy làm lòng con tan chảy, con được thấy, được gặp gỡ Đấng mà lòng con yêu mến với hạnh phúc ngọt ngào, trào tràn khiến mắt con tuôn trào suối lệ. Chiêm ngắm Chúa trong mùa Phục Sinh này, con càng cảm nhận thấy tình yêu không bến bờ của Chúa. Xin cho đời con thành lời chứng cho mọi người nhận ra và yêu mến Chúa hơn. Amen.

                                                        Én Nhỏ

=================

NIỀM TIN CHÚA PHỤC SINH
 
Thế giới đảo điên trước tin đồn, tin nóng hổi, nào là người từ cõi chết trở về dương gian, người nằm trong mồ trỗi dậy về với gia đình trước sự bàng hoàng, hoảng sợ của gia luyến, người được xác quyết là đã lìa thế, nay lại trở về, v.v...Theo thói thường, con người chúng ta có xu hướng mong mỏi sự kiện, thông tin ‘shock’, thích bàn tán, bàn luận về ‘thế giế bên kia’, phép lạ này phép lạ kia, v.v... Thế thì, đứng trước niềm xác tín, lòng tin Chúa Ki-tô phục sinh, chúng ta có thái độ thế nào, và sống chứng tá ra sao?
 
Trước tiên, chúng ta cùng tán tạ Thiên Chúa đã thực hiện biết bao kỳ công vĩ đại và hân hoan chia san niềm vui Chúa Phục Sinh với nhau “Chúa đã sống lại thật rồi, Al-lê-lui-a”. Thiết nghĩ rằng lời chúc mừng này chính là động lực, niềm xác tín của đời sống Ki-tô hữu chúng ta. Thánh Phao-lô đã từng khẳng định khi Ngài nói về sự phục sinh của Đức Ki-tô như sau: “Nếu Đức Ki-tô không trỗi dậy từ cõi chết, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng...và nếu Đức Ki-tô không trỗi dậy thì lòng tin của anh em thật hão huyền...nếu chúng ta chỉ đặt niềm tin vào Đức Ki-tô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết” (x. 1Cr 15, 14.17.19). Vì thế, niềm vui phục sinh là bài ca tán tụng Thiên Chúa, là kim chỉ nam cho đời sống chúng ta.
 
Thế nhưng, sự chiến thắng khải hoàn này, sự phục sinh này không phải nhờ vào công trạng, lòng đạo đức thánh thiện của riêng ta, mà đây chính là sự chiến thắng tử thần của Đức Giê-su Ki-tô, và nhờ vào lòng thương xót, nhân hậu của Thiên Chúa mà chúng ta được thông phần vào niềm hân hoan phục sinh của Chúa Ki-tô. Hơn nữa, một khi chúng ta kết hợp mật thiết với Ngài, đồng chịu tử nạn với Ngài, đóng đinh những sai lầm, tội lỗi, tính hư nết xấu của bản thân chúng ta, thì chúng ta sẽ được cùng sống lại với Ngài. Ngạn ngữ phương tây có câu: “Có bước qua con đường thập giá, mới nhận được vòng hoa phục sinh” (no cross, no crown). Thật vậy, lắm lúc, chúng ta mong muốn, hồ hởi đón nhận niềm vui, vòng hoa chiến thắng vinh quang, nhưng chúng ta chẳng muốn thông phần, chịu tử nạn, bước qua con đường hy sinh, dâng hiến ‘con đường thập tự’! Lắm lúc, chúng ta khước từ lời mời gọi ‘uống chén đắng’ với Thầy Giê-su trong mọi giây phút sinh hoạt hằng ngày, mà chỉ ước mong nhanh nhanh lãnh lấy triều thiên quang vinh!
 
Trong các bài đọc hôm nay, Chúa Ki-tô phục sinh mời gọi mỗi người trong chúng ta hãy xác tín, tin vào Ngài, vì chỉ có Ngài là sự sống lại và là sự sống (x. Ga 11, 25). Thứ đến, hãy trở nên nhân chứng cho Chúa Ki-tô phục sinh qua mọi sinh hoạt, mọi nơi, mọi lúc, trong mỗi cử chỉ, lời ăn, lối suy nghĩ, cách nhìn nhận vấn đề, cách sống xây dựng tình huynh đệ trong cộng đoàn, vì chúng ta là đoàn dân của Chúa Ki-tô phục sinh như chính ĐHY Luis Antôniô G. Tag-lê (trước kia là TGM Ma-ni-la, Phi-luật-tân; hiện tại là Chủ tịch Thánh Bộ Truyền giảng Tin Mừng cho các Dân tộc) đã xác tín khi ngài viết sách suy tư về ơn gọi cùng đích của người Ki-tô hữu, và sứ mạng của Giáo Hội Công Giáo với tựa đề nguyên bản ‘The Church: The People of the Resurrection’ (tạm dịch: Giáo Hội: Tín Hữu của Niềm Tin Phục Sinh). Theo ngài, mỗi Ki-tô hữu là một chứng nhân của niềm hân hoan Phục Sinh, chứ chẳng phải là người ủ dột, buồn sầu. Người Ki-tô hữu là chứng tá sống động của Chúa Ki-tô Phục Sinh, chứ không phải là người vô cảm, vô hồn, chẳng màng đến sự thống khổ của đồng loại. Người Ki-tô hữu là những người con cưng của Giáo Hội luôn mang trong mình niềm tin Chúa Ki-tô Phục Sinh, luôn mặc lấy con người mới, con người của sự chia san, của sự quên mình, luôn nghĩ cho tha nhân, và đặt Chúa Ki-tô làm chủ, trung tâm đời sống của mình.
 
Tương tự bà Ma-ri-a Mag-đa-lê-na, với lòng trìu mến, gắn bó với Chúa Giê-su, và nhất là bà đã đặt Ngài làm chủ, làm trung tâm của mọi sinh hoạt của bà; thế nên, bà đã chiến thắng nỗi sợ sệt khi phải một mình ra mộ lúc trời còn tối (x. Ga 20, 1). Bà trở nên can đảm nhanh nhẹn chia san, loan truyền những gì bà cảm nghiệm, cảm nhận, và đón nhận từ Chúa Phục Sinh. Cũng như Phê-rô, Gio-an đã dật tung cánh cửa khép kín bởi nỗi sợ hãi mà ra khỏi con người cũ của mình, đến với niềm xác tín vào Chúa Phục Sinh, và trở nên chứng tá Tin Mừng “ông thấy và ông tin” (x. Ga 20, 9). Hơn nữa, như Phao-lô được mời gọi hoán cải từ một người bắt bớ, cấm cách tín hữu tin vào Chúa Giê-su Phục Sinh, trở thành tông đồ nhiệt thành, sống và làm chứng cho Chúa Ki-tô Phục Sinh “...Ngài đã truyền cho chúng tôi rao giảng cho toàn dân và làm chứng rằng chính Ngài đã được Thiên Chúa tôn vinh...” (x. Cv 10, 42). Chúng ta được mời gọi trở nên nhân chứng của niềm tin Chúa Phục Sinh trong đời sống thường nhật, và cũng được thông phần vào sự hân hoan trọn vẹn mà Chúa Phục Sinh mang lại cho chúng ta, đó là ơn cứu độ, và chiến thắng sự chết.
 
Chúa đã sống lại thật rồi, Al-lê-lui-a! Chúng ta hãy hân hoan, mừng rỡ, chia san, thông truyền niềm vui Phục Sinh đến hết mọi người, mọi dân nước vì Chúa đã chiến thắng sự chết và sống lại vinh quang. Amen!
 
 

Lm. Xuân Hy Vọng

=================

MỘT HÔM NAY KHÁC

“Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, cô Maria Mađalêna đi đến mộ”.
“Ngày của Chúa là ngày phục sinh!” - Augustinô.
Kính thưa Anh Chị em,
Maria ra mộ từ sáng sớm. Nhưng không phải như mọi ngày. Cô mang theo một hôm qua. Một mất mát mà chúng ta cũng biết rõ. Và vì thế, cô không nhận ra - ‘một hôm nay khác!’.
“Sáng sớm, lúc trời còn tối”. Thời gian đã sang ngày thứ nhất, một ngày mới đã bắt đầu - dies nova - nhưng bóng tối vẫn còn đó. Gioan không vô tình đặt hai điều này cạnh nhau! Ánh sáng đã được ban, nhưng chưa được nhận ra. Cô thấy ngôi mộ trống, nhưng không hiểu. Cô đứng trong buổi sáng của một ngày mới, nhưng vẫn nhìn bằng ánh mắt của một đêm cũ. Ngày đã khác nhưng lòng cô chưa khác. Đó cũng là kinh nghiệm của chúng ta; có ánh sáng, nhưng đêm vẫn còn. “Trong đêm tối của linh hồn, dòng sông của Thiên Chúa vẫn sáng chảy!” - Gioan Thánh Giá.
Maria thấy; nhưng vẫn ở trong đêm - cũng thế, nhiều khi chúng ta đã thấy, mà vẫn không thoát khỏi đêm. Cô thấy tảng đá đã lăn, ngôi mộ trống; nhưng cô không nhận ra điều đã thấy. “Thấy” không dẫn đến “hiểu”; nó chỉ dừng lại ở dấu vết; Maria vẫn đọc mọi sự theo logic của cái chết: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ”. Cô bị giới hạn bởi một cách hiểu cũ - một cách hiểu được định hình bởi mất mát. Cũng vậy, chúng ta hiểu theo cách của nỗi đau mình mang. Và vì thế, dù đứng ngay trong bình minh của một ngày mới - như Maria - chúng ta vẫn ở lại trong thế giới của ngày hôm qua, nơi mọi sự đã khép lại quá sớm.
May thay, Maria quay lại; và lần này, cô không còn đứng yên. Cô chạy đi tìm Phêrô và người môn đệ kia; cô nói: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ”. Từ đó, mọi sự bắt đầu chuyển động; không còn đứng yên; không còn khép kín. Phêrô và người môn đệ kia cũng chạy, cũng tìm; họ cùng bước vào trong dấu vết của một điều chưa hiểu. Việc nhận ra không dừng lại nơi một mình Maria; nhưng lan ra, kéo người khác vào cuộc tìm kiếm. Và rồi đây, tại nhà Cornêliô, Phêrô sẽ đứng lên mà nói - bài đọc một. Điều được thấy không còn giữ lại cho riêng mình; nhưng trở thành lời công bố. Mộ trống không mở ra để Đấng Phục Sinh bước ra; nhưng để con người nhận ra. Không đóng kín; nhưng khai mở sứ vụ.
Anh Chị em,
Nơi Đức Kitô, ngày không còn là một ý niệm; nhưng là một con đường, một hành trình. Với Ngài, mỗi ngày với Cha luôn là ngày mới; một ngày sinh ra từ tương quan, không từ những gì đã qua. “Đây là ngày Chúa đã làm ra” - Thánh Vịnh đáp ca; ngày của thập giá, cũng là ngày của phục sinh. Ngày mà chúng ta không còn tìm những gì thuộc hạ giới; nhưng hướng lòng về thượng giới - bài đọc hai. Không còn sống từ những điều đã qua; nhưng từ Đấng đang sống. Không còn ở trong cái chết; nhưng trong sự sống - một sự sống không còn bị quá khứ định nghĩa. ‘Một hôm nay khác’ bắt đầu - không từ những gì chúng ta giữ lấy, nhưng từ những gì chúng ta dám trao ban.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, xin gọi tên con giữa đêm không hiểu; cho con nhận ra một hôm nay khác; xin đưa con đi, khỏi nơi con muốn nán lại!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

===================

NGÔI MỘ TRỐNG – NƠI ĐỨC TIN ĐƯỢC SINH RA


“Trời còn tối” (c.1). Tin Mừng Phục Sinh bắt đầu không phải bằng ánh sáng, mà bằng bóng tối. Không phải bằng tiếng Alleluia, mà bằng bước chân của một người phụ nữ mang đầy buồn thương.
Maria Mácđala ra mộ không phải để gặp một Đấng sống lại, nhưng để níu giữ một kỷ niệm. Bà đi tìm một xác chết. Và chính tại nơi tưởng chừng là kết thúc ấy, một điều hoàn toàn mới bắt đầu: một ngôi mộ trống… và một hành trình đức tin.
1. Yêu nhưng lại đọc dấu chỉ bằng nỗi đau
Maria là người yêu mến Chúa nhiều nhất. Chính tình yêu đã đưa bà ra mộ từ sáng sớm. Nhưng cũng chính tình yêu ấy, khi bị tổn thương, lại trở thành một màn che.
Maria Mácđala thấy “tảng đá đã lăn khỏi mộ” (c.1), và bà lập tức kết luận: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ” (c.2). Bà thấy dấu chỉ, nhưng lại đọc nó bằng nỗi đau của mình. Maria sẽ không gặp Chúa trong ngôi mộ. Bà sẽ gặp Người ở ngoài ngôi mộ (x. Ga 20, 11-17) – nghĩa là khi đã bước ra khỏi nỗi buồn thương và cái nhìn cũ của mình.
Đây là một điều rất thật nơi mỗi chúng ta: có những lúc ta yêu Chúa, nhưng thật ra ta chỉ yêu một hình ảnh về Chúa do chính mình dựng nên – một cách yêu gắn với ký ức, với những gì quen thuộc. Và khi Chúa hành động theo một cách khác, ta không nhận ra Người.
2. Khi lý trí bắt đầu bước vào
Phêrô bước vào mộ và “thấy các băng vải còn ở đó” (c.6). Tin Mừng dùng động từ theōreō (θεωρέω): không phải chỉ nhìn, nhưng là quan sát, suy xét. Ông bắt đầu nhận ra: nếu là đánh cắp xác, thì không ai lại tháo băng vải ra và xếp lại gọn gàng.
Ngôi mộ trống không phải là hỗn loạn, nhưng là một trật tự mới.
Không phải dấu vết của sự mất mát, nhưng là dấu chỉ của một khởi đầu.
Trong đời sống cũng vậy. Có những đổ vỡ tưởng như là kết thúc: một kế hoạch tan vỡ, một tương lai không như mong đợi, một mối tương quan rạn nứt… Nhưng nếu dừng lại và “nhìn kỹ”, ta có thể nhận ra: không phải mọi sự đang sụp đổ – có khi Thiên Chúa đang sắp xếp lại đời ta theo một trật tự khác. Vấn đề là: ta có đủ bình tĩnh để nhìn sâu, hay chỉ dừng lại ở hoảng hốt ban đầu?
3. Khi tình yêu mở ra cái thấy của đức tin
Người môn đệ Đức Giêsu thương mến cũng bước vào ngôi mộ trống. Sự kiện vẫn vậy, nhưng cái nhìn thì khác: “Ông đã thấy và đã tin” (c.8). Ông không thấy Đức Giêsu, chỉ thấy những dấu chỉ rất đơn sơ, nhưng ông tin Chúa đã phục sinh.
Tin Mừng dùng động từ eiden (εἶδεν): cái thấy từ bên trong. Không chỉ là mắt nhìn, mà là trái tim nhận ra. Ở đây, điều quyết định không chỉ là lý trí, nhưng là tình yêu. Chính vì yêu, ông nhận ra điều người khác không nhận ra. Tin Mừng cho thấy một hành trình rất rõ: từ “nhìn thấy” (blepō), đến “quan sát” (theōreō), và cuối cùng là “nhận ra” (eiden).
Đức tin không phải là một bước nhảy mù quáng, nhưng là kết quả của một con tim biết yêu và một lý trí biết suy tư, được soi sáng từ bên trong. Vì thế, không phải ai cũng “thấy”, dù cùng đứng trước một dấu chỉ. Không phải ai cũng “tin”, dù cùng nghe một lời.
Có những người sống rất gần Chúa, nhưng lòng không rung động, nên không nhận ra Người. Và cũng có những người chỉ gặp một dấu chỉ rất nhỏ, nhưng cả cuộc đời họ thay đổi.
4. Phục Sinh – khi ta dám bước ra khỏi “ngôi mộ” của mình
Tin Mừng nói một điều rất thật: “Các ông chưa hiểu Kinh Thánh” (c.9). Họ tin… nhưng chưa hiểu hết. Đức tin không phải là kết thúc của một quá trình hiểu biết, nhưng là khởi đầu của một hành trình mới.
Phục Sinh không chỉ là biến cố đã xảy ra với Đức Giêsu. Phục Sinh là điều phải xảy ra trong mỗi người, khi ta không còn bám vào những “ngôi mộ” của quá khứ: những tổn thương, những thất bại, những hình ảnh cũ xa lạc với chính mình và với Thiên Chúa trong hiện tại.
Ngôi mộ không chỉ là nơi của cái chết. Ngôi mộ là nơi ta ở lại quá lâu trong một điều đã qua, không dám bước ra, không dám bắt đầu lại. Phục Sinh xảy ra khi ta dám bước ra khỏi đó. Không phải vì ta đã hiểu hết, nhưng vì ta dám tin rằng: điều Thiên Chúa chuẩn bị cho ta lớn hơn điều ta đang cố giữ lại.
Kết
Ngôi mộ trống không phải là một bằng chứng để chứng minh. Nó là một lời mời để bước vào.
Có thể ta sẽ tiếp tục sống như cũ, giải thích mọi sự theo thói quen, và rồi Phục Sinh chỉ còn là một lễ hội trong năm. Nhưng cũng có thể, từ ngôi mộ trống ấy, ta bắt đầu nhận ra một dấu chỉ linh thiêng – bằng một cái nhìn mới, một con tim mới, một đời sống mới.
Và khi đó, ta không chỉ nói “Chúa đã sống lại”, nhưng chính đời ta sẽ trở thành một dấu chỉ mà người ta thoáng thấy: Người đang sống.
Cầu nguyện
Lạy Chúa Giêsu!
Việc Chúa phục sinh là điều khó hiểu,
không huy hoàng mà lặng lẽ ẩn tàng,
chỉ là ngôi mộ trống đã mở toang,
khiế
n cho Mác-đa-la càng hốt hoảng.
Phê-rô và Gio-an liền chạy đến,
cũng chỉ thấy những băng vải còn nguyên,
tâm trạng của Phê-rô rất hoang mang,
nhưng đối với Gio-an thì lại khác.

Tuy ông cũng chứng kiến bấy nhiêu điều,
nhưng nhờ vào tình yêu luôn soi chiếu,
ông nhận ra một thực tại rất cao siêu,
đó là Đức Giê-su đã phục sinh,

Ôi tình yêu quả thật là huyền diệu,
cho con người thấy được rất nhiều điều,
mà trí não không tài nào thấu hiểu,
chỉ có trái tim mới am hiểu mà thôi.

Xin cho con dám can đảm bước ra,
ra khỏi những ngôi mộ của đời mình,
những ngôi mộ của buồn sầu và thất vọng,
của tham lam và tranh chấp hơn thua,
để cũng được phục sinh
giống như Chúa.
Xin cho con được thêm lòng tin mến,
thấy Chúa đang hiện diện trong cuộc đời,
đang hành động trong mọi lúc mọi nơi,
để con luôn biết góp phần với Chúa,
làm sáng lên sự sống mới cho đời. Amen.

Lm. Thái Nguyên

===================

DẤU CHỈ CỦA SỰ SỐNG (Ga 20,1-9)
Theo Kinh Thánh, Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết.”
 
Kính thưa cộng đoàn,
Bài Tin Mừng theo thánh Gio-an kể lại buổi sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi đến mộ và thấy hòn đá đã lăn ra khỏi mộ. Bà ra mộ để viếng Chúa Giê-su và muốn liệm lại thi hài Ngài, bởi ngày an táng của Người áp lễ vượt qua và họ làm cách sơ sài. Khi thấy cảnh tượng đó, bà hốt hoảng, nghĩ rằng ai đó đã lấy xác Chúa Giê-su. Bà chạy về báo cho ông Phê-rô và người môn đệ Chúa yêu. Hai ông cùng chạy. Ông Gio-an đến trước, nhìn thấy khăn liệm, nhưng không vào. Phê-rô đến sau, nhưng vào trước, thấy khăn liệm được xếp ngay ngắn và khăn che đầu được xếp riêng. Sau đó, ông Gio-an vào theo, “ông đã thấy và đã tin.”. Ông tin vào lời tiên báo của Chúa Giê-su về cuộc Thương Khó và Phục Sinh. Ông nhận ra Chúa đã sống lại. Chúa Giê-su đã để lại dấu chỉ. Dấu chỉ này giúp Gio-an tin. Ông thấy hình ảnh quen thuộc khi được cùng sống với Chúa Giê-su.
Ngôi mộ trống và khăn liệm được xếp ngay ngắn gọn gàng minh chứng Chúa Giê-su đã phục sinh. Tuy ngôi mộ trống không phải là bằng chứng hiển nhiên. Khăn liệm xếp gọn không phải là phép lạ ồn ào. Nhưng chính sự ‘bình thường mà khác thường’ ấy làm bừng lên niềm tin. Ông Gio-an nhìn thấy hình ảnh vẫn thường diễn ra, có thể nói là thói quen của Chúa Giê-su khi Người còn sống. Ông nhận thấy những điều rất bình thường, nhưng chính vì đó ông tin vào sự Phục Sinh của Chúa Giê-su. Như thế, tin vào sự Phục Sinh của Chúa Giê-su không đến từ việc thấy tận mắt, mà từ nhận ra dấu chỉ của Thiên Chúa trong cuộc sống.
Trong cuộc sống hôm nay, mỗi khi ta vượt qua đau khổ mà vẫn còn hy vọng, đó là dấu chỉ tin vào Chúa Phục Sinh. Khi ta biết tha thứ, đó là dấu chỉ Chúa đang sống trong ta. Khi ta biết yêu thương giữa một thế giới lạnh lùng, dửng dưng, vô cảm trước những số phận đau khổ và nghèo khó, đó là bằng chứng ngôi mộ trống. Biến cố Chúa Phục Sinh không chỉ là biến cố của quá khứ, mà là một thực tại đang diễn ra mỗi ngày. Chúng ta được mời gọi tin vào Chúa Phục Sinh không phải bằng con mắt xác thịt, mà biết đọc những dấu chỉ nhỏ bé và can đảm tin: Chúa đã sống lại và đang sống trong tôi.
Có một cậu bé sống trong một ngôi làng nghèo. Một ngày nọ, cha cậu qua đời. Cậu rất đau buồn và luôn hỏi: “Cha có còn sống không?”
Mẹ cậu không trả lời trực tiếp, chỉ dẫn cậu ra vườn và nói: “Con hãy nhìn hạt giống mẹ gieo.”
Một thời gian sau, hạt giống nảy mầm, rồi lớn lên thành cây xanh.
Người mẹ nói: “Con không thấy hạt giống nữa, nhưng nó không mất đi. Nó đã biến đổi thành sự sống mới.”
Cậu bé hiểu ra: Cha mình không còn theo cách cũ, nhưng đang sống trong một cách khác.
Lạy Chúa, xin cho con nhận ra dấu chỉ của Chúa trong cuộc đời để nhận ra Chúa đáng sống bên con và trong con. A-men

Jos. Nguyễn

==================


 

Thông tin khác:
 

 

 
 
 
 
Bài Giảng của Đức Cha Đaminh Hoàng Minh Tiến Trong Thánh Lễ Bế Mạc Năm Thánh 2025
Liên kết website

 

 

 

Tiêu điểm
Website giaophanhunghoa.org được phát triển bởi đơn vị thiết kế web: MIP™ (www.mip.vn - mCMS).
log