
Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB
===================
NHÌN NHẬN (Mc 3,22-30)
“Xa-tan làm sao trừ Xa-tan được?”
Kính thưa cộng đoàn,
Trong đời sống thường ngày, một khi đã có thành kiến với người nào đó, con người luôn ‘chụp mũ’ hay ‘dán nhãn’ cho họ. Dù người kia có làm chuyện gì tốt đến đâu, họ cũng sẵn sàng bưng tai bịt mắt, không chịu nhìn cũng chẳng chịu nghe. Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giê-su làm việc tốt trừ quỷ để cứu giúp con người. Thế mà những kẻ thành kiến với Chúa Giê-su đã không nhìn nhận phép lạ trừ quỷ do bởi quyền năng Thiên Chúa. Những người này đã thành kiến, ghen tỵ với Chúa Giê-su. Họ không giảng dạy hay thực hiện được những pháp lạ như Người. Họ không thống nhất trong lời nói và việc làm. Bởi vậy, tầm ảnh hưởng của họ bị giảm sút.
Giờ đây, khi dân chúng ca tụng Chúa Giê-su, họ đã đổ oan cho Chúa Giê-su dựa thế quỷ vương để trù quỷ. Họ không tin Chúa Giê-su là Đấng Mê-si-a, đến cứu thoát con người khỏi xiềng xích tội lỗi. Họ còn nói Chúa Giê-su phải dựa vào quỷ vương để ra oai trước mặt mọi người. Quả thật, thành kiến dẫn từ sai lầm này đến sai lầm khác, từ tội lỗi này đến tội lỗi khác. Thành kiến ăn sâu vào trong tâm hồn những con người cố chấp. Do đó, họ không nhận ra sự thật nơi người khác. Chính sự khép kín và đầy ác ý của họ đảo lộn ánh sáng thành bóng tối. Chúa Giê-su đã đưa ra một dụ ngôn để cảnh giác họ, mong họ biết nhận ra sự thật: “Xa-tan làm sao trừ Xa-tan được?”. Trong một thực thể, có sự chia rẽ thì tự nó không cần tác động từ bên ngoài cũng sẽ suy tàn và tan rã. Như thế, Chúa Giê-su không dựa thế quỷ vương, mà Người dùng quyền năng Thiên Chúa để trừ quỷ. Nhưng, cac kinh sư vẫn không chịu tin vào lời Chúa Giê-su. Họ cố tình gán công trình của Thiên Chúa cho ma quỷ. Họ cố tình không nhìn nhận sự thật, sống cố chấp, khép mình trước ánh sáng của Thiên Chúa. Như vậy, không phải Thiên Chúa không tha, mà con người không muốn nhìn nhận sự thật và không muốn đón nhận ơn tha thứ. Thánh Gio-an Phao-lô II dạy: “Tội chống lại Chúa Thánh Thần là sự khước từ ơn cứu độ, không phải vì Thiên Chúa không ban, mà vì con người không muốn đón nhận.”
Có một người sống lâu năm trong căn phòng tối.
Một ngày kia, người ta mở cửa cho ánh sáng tràn vào.
Thay vì vui mừng, ông ta bịt mắt lại và la lên:
“Ánh sáng này làm tôi đau! Nó nguy hiểm!”
Cuối cùng, ông chọn ở lại trong bóng tối, không phải vì ánh sáng xấu, mà vì ông không chấp nhận ánh sáng.
Chúng ta đã được ánh sáng dẫn lối đưa đường. Mỗi người cần mở rộng tâm hồn để ánh sáng được chiếu soi vào chỗ khuất. Mỗi người can đảm bước ra khỏi chỗ tối tăm đi vào nơi ánh sáng muôn đời.
Lạy Chúa, xin cho con biết bước theo ánh sáng là Chúa Giê-su đến muôn đời. A-men
Jos. Nguyễn
=====================
LÚA CHÍN ĐẦY ĐỒNG VÀ TRÁI TIM NGƯỜI MỤC TỬ
Hôm nay, cùng với toàn thể Hội Thánh, chúng ta hân hoan mừng kính hai vị thánh Giám mục, Timôthê và Titô. Các ngài không chỉ là những môn đệ xuất sắc mà còn là những người cộng sự thân tín, những người con tinh thần của Thánh Phaolô Tông đồ. Trong bầu khí hân hoan của ngày lễ, Lời Chúa qua Tin Mừng theo Thánh Luca (Lc 10, 1-9) vang lên như một lời mời gọi khẩn thiết, một bản đồ hướng dẫn cho mọi người môn đệ Chúa Kitô qua mọi thời đại. Đoạn Tin Mừng này không chỉ là một trang nhật ký về sứ vụ của bảy mươi hai môn đệ năm xưa, mà còn là chính sứ điệp sống động mà Chúa Giêsu muốn ngỏ lời với mỗi chúng ta hôm nay, ngay tại đây, trong Thánh lễ này.
Chúa Giêsu bắt đầu bằng một hình ảnh thật đẹp và cũng thật nao lòng: "Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít." Hình ảnh cánh đồng lúa vàng óng, trĩu hạt, trải dài đến tận chân trời tượng trưng cho nhân loại. Đó là thế giới chúng ta đang sống, với hàng tỷ con người đang khao khát. Họ khao khát điều gì? Có người khao khát cơm ăn áo mặc, có người khao khát công lý và hòa bình. Nhưng sâu thẳm hơn tất cả, con người khao khát sự thật, khao khát tình yêu, khao khát một ý nghĩa cho cuộc đời mình. Họ khao khát được gặp gỡ Thiên Chúa, dù có thể họ chưa biết gọi tên Ngài. Cánh đồng ấy chính là những tâm hồn đang chờ đợi được nghe Tin Mừng cứu độ, những cuộc đời đang cần được chữa lành bởi lòng thương xót của Chúa. Cánh đồng ấy là gia đình chúng ta, là khu xóm, là công sở, là môi trường xã hội nơi chúng ta hiện diện mỗi ngày.
Nhưng Chúa Giêsu cũng chỉ ra một thực tại đáng buồn: "thợ gặt lại ít." Đây là một nghịch lý đau lòng. Một bên là nhu cầu vô hạn của ơn cứu độ, một bên là sự hữu hạn, thậm chí là khan hiếm, của những người sẵn sàng đáp lại lời mời gọi. "Thợ gặt" ở đây không chỉ gói gọn trong hàng giáo sĩ hay tu sĩ. Chắc chắn, các linh mục, giám mục, tu sĩ nam nữ là những thợ gặt chuyên biệt, những người đã hiến dâng trọn vẹn cuộc đời cho cánh đồng truyền giáo của Chúa. Chúng ta cầu nguyện đặc biệt cho các ngài. Nhưng Công đồng Vatican II đã long trọng nhắc nhở rằng, qua Bí tích Rửa tội, mỗi người Kitô hữu đều được mời gọi trở thành thợ gặt. Mỗi chúng ta, không trừ một ai, đều có trách nhiệm trong sứ vụ làm cho Nước Chúa trị đến.
Khi nhìn vào cuộc đời của Thánh Timôthê và Titô, chúng ta thấy rõ hình ảnh của những người thợ gặt nhiệt thành. Các ngài không phải là những người thuộc nhóm Mười Hai Tông đồ đầu tiên. Các ngài là thế hệ thứ hai, những người được Thánh Phaolô "gặt" về cho Chúa và rồi chính các ngài lại trở thành những tay thợ lành nghề. Timôthê, một người trẻ có phần rụt rè, nhút nhát, được Thánh Phaolô tin tưởng trao phó coi sóc cộng đoàn Êphêxô. Titô, một người mạnh mẽ và quyết đoán, được giao nhiệm vụ tổ chức và củng cố cộng đoàn non trẻ ở đảo Crêta, một nơi nổi tiếng là khó khăn. Cả hai đã đối diện với vô vàn thử thách: những giáo lý sai lạc, những chia rẽ trong cộng đoàn, sự chống đối từ bên ngoài. Nhưng các ngài đã không lùi bước. Các ngài đã lao mình vào cánh đồng, cuốc xới, gieo vãi, tưới tắm bằng lời giảng dạy, bằng chứng tá đời sống và cả bằng nước mắt. Các ngài đã hiểu rằng lời than thở của Chúa Giêsu không phải là một lời trách móc, nhưng là một lời mời gọi khẩn thiết: "Vậy anh em hãy xin Chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về."
Lời mời gọi này có ý nghĩa gì với chúng ta hôm nay? Trước hết, đó là lời mời gọi cầu nguyện. Chúa Giêsu không nói "Anh em hãy đi tìm thợ gặt", nhưng là "hãy xin Chủ mùa gặt sai thợ ra". Cầu nguyện là bước đi đầu tiên và căn bản nhất. Cầu nguyện cho chính mình, để có đủ can đảm và quảng đại thưa lên tiếng "xin vâng" với Chúa. Cầu nguyện cho có thêm nhiều ơn gọi linh mục và tu sĩ, những người sẽ là đầu tàu trong công cuộc truyền giáo. Cầu nguyện cho tất cả các Kitô hữu ý thức được phẩm giá và trách nhiệm tông đồ của mình. Lời cầu nguyện của chúng ta phải là một lời cầu nguyện kiên trì, tha thiết, phát xuất từ một trái tim thật sự thao thức về phần rỗi các linh hồn, một trái tim đồng cảm với trái tim của Chúa Giêsu khi Ngài nhìn thấy đám đông bơ vơ không người chăn dắt.
Thứ đến, sau khi cầu nguyện, chính Chúa Giêsu sai chúng ta đi: "Anh em hãy ra đi." Ngài sai chúng ta đi không phải như những vị tướng hùng mạnh, mà là "như chiên con đi vào giữa bầy sói." Hình ảnh này thật đáng sợ. Chiên con thì mỏng manh, yếu đuối; còn sói thì hung dữ, gian ngoa. Chúa biết rõ những khó khăn, những nguy hiểm mà người môn đệ sẽ phải đối mặt: sự hiểu lầm, sự gièm pha, sự chống đối, sự thờ ơ lạnh lùng của một thế giới đề cao vật chất và chủ nghĩa cá nhân. Nhưng Ngài không sai chúng ta đi một mình. Ngài đi với chúng ta. Sức mạnh của người môn đệ không đến từ gươm giáo hay tiền bạc, mà đến từ chính sự hiện diện của Đấng Phục Sinh. Như Thánh Phaolô đã khuyên Timôthê: "Đừng để ai coi thường anh vì anh còn trẻ. Trái lại, anh hãy nên gương mẫu cho các tín hữu về lời ăn tiếng nói, về cách ăn nết ở, về lòng mến, đức tin và lòng trong sạch" (1 Tm 4,12). Sức mạnh của chúng ta là chứng tá của một đời sống yêu thương, khiêm nhường và phó thác.
Cuộc đời của Timôthê và Titô là minh chứng hùng hồn cho điều đó. Các ngài đã đi vào giữa những "bầy sói" của thời đại mình - những kẻ gieo rắc tà thuyết, những người sống theo lối sống buông thả - không phải bằng quyền lực trần thế, mà bằng sự thật của Tin Mừng và sự kiên định của đức tin. Các ngài đã trở thành những người mục tử như lòng Chúa mong ước, những người không chỉ rao giảng Lời Chúa mà còn sống Lời Chúa, chăm sóc đoàn chiên được trao phó với tất cả tình yêu thương và sự hy sinh. Các ngài đã trở thành những lá thư sống động của Chúa Kitô, được mọi người đọc và nhận biết.
Anh chị em thân mến, cánh đồng truyền giáo hôm nay vẫn bao la và cấp bách. Những tâm hồn khao khát Chúa vẫn đang ở ngay cạnh chúng ta: trong gia đình, nơi công sở, trong xã hội. Chúa Giêsu vẫn đang tha thiết mời gọi mỗi người chúng ta hãy trở thành những thợ gặt cho Nước Trời. Chúng ta có thể không được sai đến những vùng đất xa xôi như Timôthê và Titô, nhưng chúng ta được sai đến chính môi trường sống của mình. Sứ vụ của chúng ta là gieo vãi những hạt giống của tình yêu, của sự tha thứ, của niềm hy vọng. Sứ vụ của chúng ta là làm cho những người chúng ta gặp gỡ cảm nhận được sự ấm áp của Tin Mừng qua chính cách sống của chúng ta.
Xin Chúa, qua lời chuyển cầu của hai Thánh Timôthê và Titô, ban cho chúng ta một trái tim biết thao thức trước cánh đồng lúa chín của thế giới. Xin cho chúng ta lòng can đảm để đáp lại lời mời gọi của Chúa, sẵn sàng ra đi gieo vãi Tin Mừng bình an. Và xin cho mỗi Thánh lễ chúng ta tham dự, đặc biệt là Thánh lễ hôm nay, trở thành nguồn sức mạnh, để chúng ta không chỉ là những người nghe Lời Chúa, mà còn là những người thực hành Lời Chúa, trở thành những thợ gặt nhiệt thành và trung tín trong vườn nho của Ngài. Amen.
Lm. Anmai, CSsR
=====================
CHẾT ÊM ÁI
“Phải khơi dậy đặc sủng của Thiên Chúa, đặc sủng anh đã nhận được!”.
“Sự thoải mái là kẻ thù của tăng trưởng!” - John Maxwell.
Kính thưa Anh Chị em,
Giữa một thế giới đã quen “sự thoải mái vốn là kẻ thù của tăng trưởng”, nhân lễ hai thánh Giám mục Timôthê và Titô, lời của Phaolô vang lên như một hồi chuông đánh thức trái tim của người môn đệ mọi thời vốn có thể đang chết - một cái ‘chết êm ái!’.
Phaolô không cảnh báo về những kẻ thù bên ngoài, nhưng về một sự nguội lạnh bên trong! Vì thế, “Phải khơi dậy đặc sủng!”. Đặc sủng không bị cướp mất, mà bị bỏ quên; bị bỏ quên đủ lâu, đức tin sẽ rơi vào tình trạng nguy biến ngấm ngầm - không đau, không phản kháng, chỉ là một cái ‘chết êm ái’ trong vùng an toàn. “Ở đâu đó trên đường đời, ta đã biến lệnh truyền - đòi giá phải trả - của Đức Kitô thành một lời mời gọi an nhàn!” - David Platt. Vậy nếu một đức tin sống dở, chết dở, ‘an toàn’ như thế thì làm sao người môn đệ có thể sống sứ vụ “Hãy kể cho muôn dân được biết những kỳ công Chúa làm?” - Thánh Vịnh đáp ca. Như vậy, ơn gọi môn đệ, xét cho cùng, là một lời mời bước ra khỏi những tính toán thế tục hầu tình yêu cứu độ có thể chảy qua đời mình, chảy vào thế giới.
Tin Mừng cho thấy Chúa Giêsu cũng không đồng tình với kiểu an toàn đó. Ngài sai các môn đệ như chiên vào giữa sói, không túi tiền, bao bị, giày dép; nghĩa là họ phải tín thác tuyệt đối vào Đấng sai mình, cho phép Tin Mừng lấy khỏi họ mọi chọn lựa khôn ngoan kiểu thế gian. Bởi lẽ, khi không còn liều mình vì Tin Mừng, rất có thể không ai còn thật sự “bước đi”; họ chỉ đang “đứng yên” trong những lối mòn đạo đức. Khi đức tin không còn được kể bằng đời sống, nó sẽ bị đẩy vào chỗ riêng tư, lịch sự; Tin Mừng - bấy giờ - không bị từ chối, chỉ bị… để yên. Và chính trong sự “để yên” đó, điều từng có sức cứu độ mất dần khả năng đánh thức lương tâm người khác - nó đang ‘chết êm ái!’. “Đức tin không được bày tỏ sẽ héo tàn; cộng đoàn không sứ vụ sẽ mất sức sống!” - Van Rheenen.
Anh Chị em,
“Sự thoải mái là kẻ thù của tăng trưởng!”. Nhìn lên thập giá, chúng ta hiểu rằng, ơn cứu độ không được sinh ra từ một tình yêu thoải mái, an toàn. Chúa Kitô không giữ sự sống cho riêng mình, không chấp nhận cứu độ nhân loại bằng một cái ‘chết êm ái’, nhưng trao ban đến tận cùng. Nhưng chính từ cái tận cùng ấy, sự sống được mở ra; và cũng từ sự tự hiến ấy, Hội Thánh được chào đời như “một cộng đoàn được sai đi!”. Ước gì lời của Phaolô hôm nay trở thành hồi còi thức tỉnh bạn và tôi - “Hãy khơi dậy đặc sủng!” - để đức tin không chỉ được giữ, mà được sống; không chỉ được bảo toàn, mà còn được tặng trao! “Có người muốn sống trong tiếng chuông nhà thờ; còn tôi, tôi muốn đem sứ vụ cứu độ đến tận những nơi mà vô vàn con người đang mất phương hướng!” - C.T. Studd.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, xin hà hơi vào tim con khi nó đang nguội lạnh; gọi con đứng dậy khi con quen ngủ yên; đừng để con chết yên ả trong những ngày tưởng là bình an!”, Amen.
Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)
======================
