Thứ tư, 04/03/2026

Suy niệm Tin mừng Thứ Sáu sau lễ Hiển Linh (Lc 5,12-16)

Cập nhật lúc 19:00 08/01/2026
 
Tin mừng: Lc 5,12-16

Lập tức, chứng phong hủi biến khỏi anh.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

12 Khi ấy, Đức Giê-su đang ở trong một thành kia ; có một người toàn thân mắc bệnh phong vừa thấy Người, liền sấp mặt xuống, xin Người rằng: “Thưa Ngài, nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch.” 13 Người giơ tay đụng vào anh và bảo: “Tôi muốn, anh hãy được sạch.” Lập tức, bệnh phong biến khỏi anh. 14 Rồi Người ra lệnh cho anh không được nói với ai, và Người bảo: “Hãy đi trình diện tư tế, và vì anh đã được sạch, thì hãy dâng của lễ như ông Mô-sê đã truyền, để làm chứng cho người ta biết.”

15 Tiếng đồn về Người ngày càng lan rộng ; dân chúng lũ lượt tuôn đến để nghe Người và để được chữa bệnh. 16 Nhưng Người lui vào những nơi hoang vắng mà cầu nguyện.

=====================

HIỂU BIẾT MẦU NHIỆM GIÁNG SINH
(THỨ SÁU SAU LỄ HIỂN LINH)
 
Qua Lời Tổng Nguyện của Thứ Sáu Sau Lễ Hiển Linh, các nhà phụng vụ muốn chúng ta ý thức rằng: Chúa đã lấy điềm sao mà mặc khải mầu nhiệm Đấng Cứu Thế giáng sinh, xin Chúa cho ánh hào quang sinh nhật giãi sáng vào tâm trí chúng ta, để chúng ta ngày càng hiểu biết mầu nhiệm ấy.
 
Hiểu biết mầu nhiệm Đấng Cứu Thế giáng sinh, quy hướng về trời mới đất mới, như trong bài đọc một của giờ Kinh Sách, trích sách ngôn sứ Isaia: Thiên Chúa dùng hình ảnh một cuộc tạo thành mới để cho ta thấy trước công trình của Người sẽ được hoàn tất như thế nào. Thánh Phaolô dạy chúng ta rằng: tạo thành mới đó chính là chúng ta, nhưng, chỉ khi nào Đức Kitô trở lại vinh quang, thì tạo thành đó mới xuất hiện huy hoàng rực rỡ. Vậy chúng ta hãy hướng về mục đích đó, về ngày sự công chính hoàn thiện chúng ta mơ ước, sẽ được thiết lập. Chúng ta chiến đấu để thiết lập sự công chính đó, nhưng, nếu chỉ hạn chế vào thế giới này thôi thì thật là vô ích... Tôi thấy trời mới đất mới. Rồi tôi nghe từ phía ngai có tiếng hô to: Đây là nơi Thiên Chúa ở cùng nhân loại. Người sẽ ở cùng họ. Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết, vì những điều cũ đã biến mất rồi.
 
Hiểu biết mầu nhiệm Đấng Cứu Thế giáng sinh, quy hướng về Đấng gánh lấy tội trần gian, như trong bài đọc hai của giờ Kinh Sách, trích bài giảng của thánh Mácximô: Các mầu nhiệm về phép rửa của Chúa… Ông Gioan thấy Đức Giêsu tiến về phía mình liền nói: Đây là Chiên Thiên Chúa. Đây Đấng xóa bỏ tội trần gian. Chính Người sẽ làm cho muôn người nên công chính, và sẽ gánh lấy tội lỗi của họ.
 
Hiểu biết mầu nhiệm Đấng Cứu Thế giáng sinh, quy hướng về Đấng sẽ làm cho ta nên trong sạch và chữa lành hết mọi bệnh hoạn tật nguyền của ta, như trong bài đọc một của Thánh Lễ, trích thư thứ nhất của thánh Gioan tông đồ: Có ba chứng nhân: Thần Khí, nước, và máu. Cả ba cùng làm chứng một điều. Trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 147: Giêrusaem hỡi, nào tôn vinh Chúa! Này Xion, hãy ca ngợi Thiên Chúa của ngươi! Then cửa nhà ngươi, Chúa làm cho thêm chắc, con cái trong thành, Người giáng phúc thi ân.
 
Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Đức Giêsu rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa hết mọi kẻ bệnh hoạn tật nguyền trong dân. Trong bài Tin MừngĐức Giêsu giơ tay đụng vào anh và bảo: Tôi muốn, anh hãy được sạch. Lập tức, bệnh phong biến khỏi anh. Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian đến chữa lành và làm cho ta nên trong sạch, đây là cách Thiên Chúa biểu lộ tình yêu đối với chúng ta: Người đã sai Con Một giáng trần, để nhờ Con của Người, mà chúng ta được sống. Chúa bày tỏ lời Người cho nhà Giacóp, chiếu chỉ luật điều cho Ítraen. Chúa không đối xử với dân nào như vậy, không cho họ biết những điều luật của Người. Có ba chứng nhân: Thần Khí, nước, và máu. Cả ba cùng làm chứng một điều. Ai tin vào Con Thiên Chúa, người đó có lời chứng ấy nơi mình. Xưa kia, Đức Maria nâng niu âu yếm Đấng Cứu Độ trong lòng khi sinh con ra, thì nay, Chúa Cha dùng lời chứng thân thương mà nâng đỡ: Đây là Con Yêu Dấu của Ta; xưa kia Đức Maria đưa Chúa Con cho các hiền sĩ bái thờ, thì nay, Chúa Cha mặc khải Chúa Con cho các dân ngoại thờ kính. Đức Kitô, Đấng Cứu Độ, Đấng Chữa Lành, Người sẽ trở lại vinh quang, một cuộc tạo thành mới sẽ xuất hiện huy hoàng rực rỡ: Sói với chiên con sẽ cùng nhau ăn cỏ, sư tử cũng ăn rơm như bò, còn rắn sẽ lấy bụi đất làm lương thực. Sẽ không còn ai tác hại và tàn phá trên khắp núi thánh của Chúa. Chúa đã lấy điềm sao mà mặc khải mầu nhiệm Đấng Cứu Thế giáng sinh, ước gì ánh hào quang sinh nhật giãi sáng vào tâm trí chúng ta, để chúng ta ngày càng hiểu biết mầu nhiệm ấy. Ước gì được như thế!

Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB

====================

CHÚA CHẠM TỚI CON NGƯỜI (Lc 5,12-16)
Người giơ tay đụng vào anh và bảo: ‘Tôi muốn, anh hãy được sạch.”
 
Kính thưa cộng đoàn,
Sau lễ Hiển Linh, Tin Mừng cho thấy Chúa không chỉ tỏ mình bằng ánh sáng huy hoàng, mà còn bằng một cử chỉ rất gần gũi: đưa tay chạm đến người bị loại trừ. Chúa Giê-su đến một thành kia. Có một người bệnh phong thấy Người, anh ta chạy đến sấp mình dưới chân Người và thưa: “Thưa Ngài, nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch.” Một sự việc diễn ra bất ngờ và đi ngược lại với quy định của luật Do-thái. Người mắc bệnh phong là người bị loại trừ, không được giao thiệp với ai và đi đến đâu phải hô lên để cho người khác biết còn tránh xa. Vậy mà, người phong này chủ động đến gần Chúa Giê-su. Anh ta vượt qua mọi rào cản của luật lệ để cầu xin lòng thương xót. Chúa Giê-su đã chạnh lòng thương và đụng đến anh: “Người giơ tay đụng vào anh và bảo: ‘Tôi muốn, anh hãy được sạch.” Việc làm của Chúa Giê-su cũng đi ngược lại với luật Do-thái. Một người lành sạch đụng vào người bệnh phong thì người đó bị nhiễm uế. Chúa Giê-su cũng vượt qua ranh giới của những quy định để đến với người bị loại trừ.
Ngoài ra, một chi tiết nữa giúp cho chúng ta suy nghĩ. Những lần tỏ mình trước, Chúa Giê-su chủ động tỏ mình ra cho các môn đệ và dân chúng. Lần này, Chúa Giê-su đợi con người chủ động đi tìm Người. Như thế, muốn gặp được Thiên Chúa, không chỉ Thiên Chúa đến với con người, mà con người cũng cần chủ động đến gặp Thiên Chúa.
Trong một bệnh viện, có một bệnh nhân bị bệnh ngoài da nặng, ai cũng e ngại không dám lại gần. Khi vị bác sĩ mới đến thăm, các y tá nói nhỏ:
“Xin bác sĩ đừng chạm vào bệnh nhân này, dễ lây lắm.”
Vị bác sĩ vẫn tiến lại gần, nắm lấy tay người bệnh và nói:
“Tôi ở đây để giúp anh.”
Sau đó ông mới đeo găng và tiến hành điều trị.
Người bệnh bật khóc và nói:
“Từ lâu rồi chưa ai dám nắm tay tôi. Dù tôi có khỏi bệnh hay không, hôm nay tôi đã được chữa lành trong lòng.”
Có những vết thương cần thuốc, nhưng có những vết thương chỉ được chữa lành bằng sự chạm đến yêu thương.
Lạy Chúa, xin Chúa chạm tới tâm hồn con thì con sẽ được sạch trong. A-men

Jos. Nguyễn

======================

CÁI CHẠM VƯỢT QUA MỌI RÀO CẢN

Trong các trình thuật Tin Mừng, có những cuộc gặp gỡ, những phép lạ mang tính biểu tượng sâu sắc, không chỉ kể lại một sự kiện trong quá khứ mà còn mở ra cho chúng ta một chân trời mới về dung mạo và sứ mạng của Thiên Chúa. Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và người phong hủi trong đoạn Tin Mừng theo thánh Luca mà chúng ta vừa nghe là một trong những khoảnh khắc chấn động như thế. Để hiểu được tầm vóc của sự kiện này, chúng ta cần phải quay ngược thời gian, trở về với bối cảnh xã hội và tôn giáo của người Do Thái cách đây hai ngàn năm.
Vào thời đó, bệnh phong hủi, hay còn gọi là bệnh cùi, không đơn thuần là một căn bệnh thể xác. Nó được xem là một bản án khủng khiếp, một sự nguyền rủa của chính Thiên Chúa dành cho kẻ tội lỗi. Người mắc bệnh phong không chỉ chịu đựng nỗi đau đớn thể xác khi da thịt dần bị hủy hoại, mà còn phải gánh chịu một nỗi đau tinh thần còn ghê gớm hơn gấp bội: sự loại trừ tuyệt đối khỏi cộng đồng.
Theo luật Môsê, được ghi lại trong sách Lêvi, người phong hủi bị coi là ô uế. Họ phải sống tách biệt khỏi gia đình, làng mạc, phải mặc quần áo rách rưới, để tóc xõa, và khi thấy có người đến gần, họ phải lấy tay che miệng và la lớn: “Ô uế! Ô uế!”. Họ bị xem như đã chết về mặt xã hội, mất hết mọi quyền lợi, bị tước đoạt phẩm giá làm người và bị cấm không được đến gần Đền Thờ, nơi được cho là có sự hiện diện của Thiên Chúa. Họ là những người cùng khổ nhất trong những người cùng khổ, bị cả xã hội lẫn tôn giáo ruồng bỏ, sống trong tuyệt vọng và cô đơn cùng cực.
Giữa bức tranh tăm tối và tuyệt vọng đó, một tia sáng đã lóe lên. Một người “toàn thân mắc bệnh phong” đã làm một điều không ai dám làm. Thay vì la lên để mọi người tránh xa, anh đã phá vỡ mọi quy tắc, mọi rào cản để chạy đến với Chúa Giêsu. Anh ta không đứng từ xa van xin, mà “liền sấp mặt xuống” dưới chân Chúa. Cử chỉ này nói lên tất cả. Đó là cử chỉ của sự cùng khốn tột độ, nhưng đồng thời cũng là cử chỉ của lòng khiêm nhường sâu thẳm và một niềm tin mãnh liệt. Anh ta đặt trọn vẹn số phận của mình, một số phận bị cả thế giới quay lưng, vào lòng thương xót của một người mà anh tin rằng có thể làm được điều không thể. Lời van xin của anh thật đơn sơ nhưng chứa đựng một nền thần học sâu sắc: “Thưa Ngài, nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch”. Anh không đòi hỏi. Anh không ra điều kiện. Anh không nói: “Xin hãy chữa tôi”. Anh nói: “Nếu Ngài muốn”. Anh hoàn toàn phó thác vào ý muốn của Chúa Giêsu. Anh tin vào quyền năng của Chúa, nhưng anh tôn trọng sự tự do của Ngài. Đó là lời cầu nguyện của một con người đã mất tất cả, chỉ còn lại một niềm tin tinh tuyền, một sự tín thác vô điều kiện vào lòng tốt của Thiên Chúa được thể hiện nơi con người Đức Giêsu.
Và rồi, điều không tưởng đã xảy ra. Phản ứng của Chúa Giêsu đã làm rung chuyển mọi quan niệm, mọi luật lệ của thời đại. Tin Mừng ghi lại: “Người giơ tay đụng vào anh”. “Đụng vào anh!” Đây là một hành động mang tính cách mạng, một hành vi không thể chấp nhận được đối với một người Do Thái đạo đức. Đụng vào người phong hủi đồng nghĩa với việc tự làm cho mình ra ô uế theo luật, tự mình phải chịu những nghi thức thanh tẩy phức tạp và bị cách ly. Bất kỳ thầy rabbi nào khác cũng sẽ giữ khoảng cách, sẽ dùng lời nói từ xa. Nhưng Chúa Giêsu thì không. Ngài đã giơ tay ra. Cái giơ tay đó không chỉ là một cử chỉ, đó là một cây cầu nối liền khoảng cách giữa sự thánh thiện và sự ô uế, giữa Thiên Chúa và con người bị loại trừ. Cái chạm của Chúa Giêsu không phải là một cái chạm tình cờ. Đó là một cái chạm đầy chủ ý, đầy lòng trắc ẩn. Qua cái chạm đó, Ngài không chỉ muốn chữa lành da thịt của người bệnh, Ngài muốn phục hồi toàn diện con người anh ta. Ngài muốn nói với anh rằng: “Con không đáng ghê tởm. Con không bị ruồng bỏ. Con vẫn là một con người quý giá trước mặt Thiên Chúa. Ta không sợ sự ô uế của con, vì tình yêu của Ta mạnh hơn sự ô uế đó”. Cái chạm của Chúa Giêsu không làm cho Ngài bị lây sự ô uế, mà ngược lại, sự thánh thiện của Ngài đã lan tỏa, đã thanh tẩy và biến đổi con người kia. Quyền năng của tình yêu đã chiến thắng quyền lực của sự loại trừ.
Sau cái chạm đầy quyền năng ấy là lời phán quyết: “Tôi muốn, anh hãy được sạch”. Chúa Giêsu đã đáp lại lời cầu xin của người bệnh một cách trực tiếp và mạnh mẽ. “Tôi muốn”. Ý muốn của Chúa Giêsu trùng khớp với khát vọng sâu xa nhất của con người đau khổ. Thiên Chúa không phải là một vị thần xa lạ, dửng dưng trước nỗi đau của con người. Ngài là một vị Thiên Chúa “muốn” chúng ta được chữa lành, “muốn” chúng ta được sống, và sống dồi dào. Ngài là Đấng luôn chủ động đi bước trước, tìm kiếm và cứu vớt những gì đã hư mất. Và lời phán của Ngài có sức sáng tạo: “Lập tức, chứng phong hủi biến khỏi anh”. Phép lạ xảy ra không phải do một công thức ma thuật, mà do cuộc gặp gỡ giữa lòng tin của con người và lòng thương xót của Thiên Chúa. Người đàn ông này không chỉ được lành bệnh, anh ta còn được “sạch”. Từ “sạch” ở đây không chỉ có nghĩa là sạch bệnh ngoài da, mà còn có nghĩa là được thanh tẩy khỏi sự ô uế theo luật, được phục hồi phẩm giá, được tái hòa nhập vào cộng đồng dân Chúa. Chúa Giêsu đã trả lại cho anh tất cả những gì anh đã mất: sức khỏe, phẩm giá, các mối tương quan xã hội và cả tương quan với Thiên Chúa.
Kính thưa cộng đoàn, câu chuyện về người phong hủi không chỉ là một kỷ niệm đẹp trong quá khứ. Nó vẫn đang tiếp diễn trong thế giới hôm nay, và ngay trong chính tâm hồn mỗi người chúng ta. Ai trong chúng ta mà không mang trong mình một thứ “bệnh phong” nào đó? Có thể đó không phải là bệnh ngoài da, mà là bệnh phong của tội lỗi, của những thói quen xấu cứ gặm nhấm đời sống thiêng liêng của chúng ta. Đó là bệnh phong của sự ích kỷ, của lòng kiêu ngạo, khiến chúng ta tự cô lập mình khỏi Thiên Chúa và anh chị em. Đó là bệnh phong của sự ghen ghét, hận thù, làm cho tâm hồn chúng ta ra chai đá, không còn khả năng yêu thương. Đó là bệnh phong của sự thất vọng, của nỗi buồn dai dẳng, khiến chúng ta cảm thấy mình bị bỏ rơi, không còn giá trị. Giống như người phong hủi xưa, chúng ta thường cảm thấy mình ô uế, không xứng đáng đến gần Chúa. Chúng ta tự ti, mặc cảm và cố gắng che giấu những vết thương lòng của mình.
Bài Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta hãy can đảm như người phong hủi kia. Hãy phá vỡ những rào cản của sự sợ hãi và mặc cảm tội lỗi. Hãy chạy đến với Chúa Giêsu, sấp mình dưới chân Ngài trong tòa giải tội, trong những giờ cầu nguyện riêng tư, và đặc biệt là trong mỗi Thánh lễ. Hãy dâng lên Ngài tất cả những “vết thương” của chúng ta, những “khối u” của tội lỗi, và thưa với Ngài bằng tất cả lòng tin tưởng: “Lạy Chúa, nếu Chúa muốn, Chúa có thể làm cho con được sạch”. Và chắc chắn, Chúa Giêsu vẫn đang ở đây, sẵn sàng giơ tay chạm vào chúng ta. Ngài chạm vào chúng ta qua lời tha tội của vị linh mục, qua Lời hằng sống của Ngài, và một cách đặc biệt, qua chính Mình và Máu Thánh Ngài trong Bí tích Thánh Thể. Mỗi lần chúng ta rước lễ, là mỗi lần chúng ta để cho Chúa chạm vào tận sâu thẳm con người mình, để Ngài chữa lành, thanh tẩy và biến đổi chúng ta. Ngài không ghê tởm sự yếu đuối của chúng ta. Ngài chỉ mong muốn chúng ta mở lòng ra để đón nhận tình yêu và quyền năng của Ngài.
Đồng thời, câu chuyện này cũng là một lời chất vấn đối với mỗi người chúng ta, những người đã được Chúa chạm đến và chữa lành. Liệu chúng ta có dám giơ tay chạm vào những người “phong hủi” của thời đại hôm nay không? Đó là những người bị xã hội loại trừ vì quá khứ lầm lỡ, vì hoàn cảnh nghèo đói, vì bệnh tật, vì những khác biệt về quan điểm hay lối sống. Chúng ta có dám vượt qua những thành kiến, những rào cản của sự sợ hãi để đến gần họ, để lắng nghe, để an ủi và để trao cho họ một chút hơi ấm của tình người hay không? Hay chúng ta cũng giống như những người Do Thái xưa, chỉ biết giữ khoảng cách, chỉ trỏ và lên án? Là những Kitô hữu, chúng ta được mời gọi để trở thành cánh tay nối dài của Chúa Giêsu, để thực hiện những “cái chạm” của lòng thương xót, để mang Tin Mừng chữa lành đến cho những tâm hồn đang đau khổ và bị bỏ rơi.
Xin cho Lời Chúa hôm nay biến đổi chúng ta. Xin cho chúng ta luôn biết chạy đến với lòng thương xót của Chúa mỗi khi chúng ta vấp ngã, và đồng thời, cũng biết trở nên những sứ giả của lòng thương xót đó cho anh chị em mình. Để qua cuộc sống của chúng ta, nhiều người có thể cảm nghiệm được cái chạm yêu thương và chữa lành của Đức Kitô, Đấng đã đến để tìm và cứu những gì đã hư mất. Amen.

Lm. Anmai, CSsR

======================

“TÔI MUỐN” CỦA THIÊN CHÚA VÀ SỰ TÁI HÒA NHẬP CỦA CON NGƯỜI

Trình thuật Chúa Giêsu chữa lành người phong hủi mà thánh Luca kể lại không chỉ là một câu chuyện cảm động về một phép lạ chữa bệnh. Nó còn là một bài học sâu sắc về ý muốn cứu độ của Thiên Chúa và về hành trình được phục hồi phẩm giá của con người. Tâm điểm của trình thuật không chỉ nằm ở hành động “chạm” đầy táo bạo của Chúa Giêsu, mà còn nằm ở cuộc đối thoại ngắn gọn nhưng đầy sức nặng giữa Ngài và người bệnh. Cuộc đối thoại này bắt đầu bằng lời cầu xin của người phong hủi: “Thưa Ngài, nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch”, và đạt đến đỉnh điểm với lời đáp trả của Chúa Giêsu: “Tôi muốn, anh hãy được sạch”. Hai chữ “Tôi muốn” – tiếng Hy Lạp là “Thelō” – vang lên như một lời tuyên bố đầy uy quyền và lòng nhân ái, mạc khải cho chúng ta dung mạo thật của Thiên Chúa, một dung mạo hoàn toàn khác với những gì người Do Thái thời đó thường hình dung.
Trong quan niệm của nhiều người thời Chúa Giêsu, bệnh tật, đặc biệt là bệnh phong, là dấu chỉ của sự trừng phạt từ Thiên Chúa. Người ta cho rằng người bệnh hẳn đã phạm một tội lỗi nào đó, hoặc chính họ, hoặc cha ông họ, nên mới phải gánh chịu hậu quả bi thảm như vậy. Thiên Chúa trong cái nhìn đó là một vị thẩm phán nghiêm khắc, sẵn sàng giáng họa để trừng trị tội nhân. Thế nhưng, qua lời tuyên bố “Tôi muốn”, Chúa Giêsu đã đập tan hình ảnh méo mó đó. Ngài mạc khải một Thiên Chúa có ý muốn hoàn toàn khác. Ý muốn của Thiên Chúa không phải là trừng phạt, không phải là loại trừ, không phải là gây ra đau khổ. Trái lại, ý muốn của Thiên Chúa là chữa lành, là cứu vớt, là phục hồi. Ngài “muốn” con người được sạch, được lành mạnh cả hồn lẫn xác. Ngài “muốn” con người được sống và sống hạnh phúc. Lòng thương xót không phải là một thuộc tính phụ của Thiên Chúa, nó chính là bản chất của Ngài. Khi đối diện với nỗi đau của con người, phản ứng đầu tiên và tự nhiên nhất của Thiên Chúa là “chạnh lòng thương” và “muốn” hành động để giải thoát. Lời “Tôi muốn” của Chúa Giêsu không chỉ dành riêng cho người phong hủi năm xưa, mà còn là lời hứa dành cho tất cả mọi người, trong mọi thời đại. Bất cứ ai đang quằn quại trong đau khổ, trong tội lỗi, trong tuyệt vọng, Thiên Chúa đều muốn nói với họ: “Ta muốn con được chữa lành. Ta muốn con được tự do. Ta muốn con được hạnh phúc”.
Tuy nhiên, ý muốn của Thiên Chúa không phải là một sức mạnh áp đặt một cách mù quáng. Ngài tôn trọng sự tự do của con người. Phép lạ chỉ xảy ra khi ý muốn của Thiên Chúa gặp gỡ lòng tin và sự khao khát của con người. Người phong hủi đã đi bước trước. Anh đã dám vượt qua luật lệ, vượt qua sự sợ hãi của bản thân để tìm đến với Chúa. Anh đã bày tỏ một niềm tin tuyệt đối vào quyền năng của Ngài và một sự phó thác hoàn toàn vào ý muốn của Ngài. Chính hành động đức tin này đã mở đường cho quyền năng của Thiên Chúa hoạt động. Điều này dạy chúng ta một bài học quan trọng trong đời sống cầu nguyện. Khi chúng ta cầu xin, chúng ta không phải đang cố gắng thuyết phục một vị Thiên Chúa miễn cưỡng, hay đang cố gắng thay đổi ý định của Ngài. Cầu nguyện đúng hơn là một hành trình để chúng ta khám phá ra ý muốn tốt lành của Thiên Chúa dành cho mình, và để chúng ta điều chỉnh ý muốn của mình sao cho phù hợp với ý muốn của Ngài. Lời cầu nguyện của người phong hủi là một mẫu mực: “Lạy Chúa, nếu Chúa muốn”. Đó là lời cầu nguyện vừa bày tỏ khát vọng sâu xa của mình, vừa khiêm tốn đặt tất cả trong sự quan phòng của Chúa. Đó là lời cầu nguyện không tìm kiếm ý riêng, mà tìm kiếm ý Cha. Và khi ý muốn của chúng ta hòa hợp với ý muốn của Thiên Chúa, thì phép lạ sẽ xảy ra.
Sau khi chữa lành cho người bệnh, Chúa Giêsu đã làm một điều có vẻ khá lạ. Ngài “truyền cho anh ta không được nói với ai”, nhưng lại bảo anh: “Hãy đi trình diện tư tế, và vì anh đã được sạch, thì hãy dâng của lễ như ông Môsê đã truyền, để làm chứng cho người ta biết”. Tại sao Chúa lại muốn giữ im lặng về phép lạ? Có nhiều lý do được các nhà chú giải đưa ra. Có thể Ngài muốn tránh sự tung hô của dân chúng như một người làm phép lạ đơn thuần, một sự nổi tiếng có thể gây hiểu lầm về sứ mạng Mês-si-a đích thực của Ngài, một sứ mạng phải đi qua con đường thập giá. Nhưng điều quan trọng hơn nằm ở vế thứ hai: việc đi trình diện tư tế và dâng của lễ. Đây không phải là một thủ tục bình thường. Đây là một hành động mang ý nghĩa tái hòa nhập sâu sắc. Tư tế là người có thẩm quyền chính thức để xác nhận một người đã được sạch bệnh và tuyên bố anh ta có thể trở lại với cộng đồng. Việc dâng của lễ là một hành vi tạ ơn Thiên Chúa và là một dấu chỉ công khai cho thấy anh đã được phục hồi hoàn toàn quyền lợi và nghĩa vụ của một thành viên trong dân Israel.
Chúa Giêsu không chỉ quan tâm đến việc chữa lành vết thương thể xác. Ngài còn quan tâm đến việc phục hồi toàn diện con người, bao gồm cả các mối tương quan xã hội và tôn giáo. Ngài không muốn người được chữa lành chỉ đơn thuần khỏe mạnh, Ngài muốn anh ta được trở về với gia đình, với bạn bè, với cộng đoàn, và được tham dự vào đời sống phụng tự. Chúa Giêsu không đến để phá bỏ Lề Luật, mà để kiện toàn Lề Luật. Ngài tôn trọng các cơ cấu xã hội và tôn giáo của dân tộc mình, nhưng Ngài đổ đầy vào đó một tinh thần mới, tinh thần của lòng thương xót. Việc chữa lành của Ngài không chỉ là một hành động cá nhân giữa Ngài và người bệnh, mà còn phải được cộng đồng chứng thực và đón nhận. Ơn cứu độ mà Chúa Giêsu mang đến luôn có một chiều kích cộng đoàn. Chúng ta được cứu không phải để sống một mình, mà để sống trong sự hiệp thông với Thiên Chúa và với anh chị em.
Hành trình của người phong hủi là hình ảnh cho hành trình của mỗi tội nhân chúng ta. Khi chúng ta phạm tội, chúng ta không chỉ làm tổn thương chính mình, mà còn phá vỡ mối tương quan với Thiên Chúa và với Hội Thánh. Tội lỗi cũng giống như bệnh phong, nó làm chúng ta ra “ô uế” và tự tách biệt mình khỏi sự hiệp thông. Khi chúng ta đến với Bí tích Giao hòa, chúng ta cũng giống như người phong hủi đến sấp mình dưới chân Chúa. Qua vị linh mục, chính Chúa Giêsu chạm vào chúng ta, nói với chúng ta lời tha thứ: “Tôi muốn, con hãy được sạch”. Và sự tha thứ này không chỉ là một sự an ủi nội tâm. Nó còn là một hành vi tái hòa nhập chúng ta vào lòng Hội Thánh. Linh mục, với thẩm quyền của Hội Thánh, tuyên bố chúng ta được giao hòa. Việc đền tội mà chúng ta thực hiện cũng giống như việc dâng của lễ, là một dấu chỉ cho thấy lòng sám hối của chúng ta và quyết tâm sống một đời sống mới trong sự hiệp thông.
Hơn nữa, câu chuyện này cũng nhắc nhở chúng ta về vai trò của cộng đoàn trong việc đón nhận những người lầm lỡ trở về. Sau khi được Chúa chữa lành, người phong hủi cần được các tư tế và cộng đồng đón nhận. Tương tự như vậy, khi một người anh em sám hối trở về sau những ngày tháng sống trong tội lỗi, cộng đoàn chúng ta có thái độ nào? Chúng ta có mở rộng vòng tay đón nhận họ như Chúa đã đón nhận không? Hay chúng ta vẫn giữ thái độ nghi kỵ, xét nét, nhắc lại những lỗi lầm quá khứ của họ? Một cộng đoàn Kitô hữu đích thực phải là nơi mà lòng thương xót được thể hiện, là nơi mà những người “phong hủi” của thời đại cảm thấy được đón nhận, được yêu thương và được phục hồi phẩm giá. Chúng ta được mời gọi để trở thành những “tư tế” của lòng thương xót, không phải theo nghĩa phẩm trật, mà theo nghĩa làm chứng cho sự tha thứ của Chúa và giúp đỡ anh chị em mình tái hòa nhập vào đời sống cộng đoàn.
Cuối cùng, Tin Mừng ghi nhận: “Tiếng đồn về Người ngày càng lan rộng... Nhưng Người lui vào những nơi hoang vắng mà cầu nguyện”. Dù Chúa Giêsu đã dặn người được chữa lành giữ im lặng, nhưng niềm vui quá lớn đã khiến anh không thể không loan báo về quyền năng và lòng thương xót của Chúa. Và kết quả là dân chúng lũ lượt kéo đến với Chúa. Nhưng giữa sự thành công và nổi tiếng đó, Chúa Giêsu lại tìm về nơi hoang vắng để cầu nguyện, để ở lại trong sự thinh lặng với Chúa Cha. Đây là bài học tuyệt vời cho mỗi chúng ta. Mọi hoạt động bác ái, mọi công cuộc phục vụ của chúng ta phải được bắt nguồn và nuôi dưỡng bằng đời sống cầu nguyện, bằng sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa. Nếu không, hoạt động của chúng ta sẽ chỉ là những công việc của con người, thiếu sức mạnh biến đổi của Chúa Thánh Thần. Xin Chúa cho chúng ta biết noi gương Chúa Giêsu, vừa hăng say phục vụ anh em, vừa biết tìm đến những giây phút thinh lặng bên Chúa, để ý muốn của chúng ta luôn hòa hợp với ý muốn của Cha trên trời. Amen.

 

Lm. Anmai, CSsR

=====================
KHÔNG PHẢI LÚC NÀY

“Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch!”.
“Ở Nga, Kitô hữu bị thử thách bởi gian khổ; ở Mỹ, họ bị thử thách bởi tự do. ‘Bởi tự do’ khó hơn nhiều! Không ai áp lực trên niềm tin của bạn; vì vậy, bạn thoải mái, không quá tập trung vào Chúa Kitô, vào sự dạy dỗ của Ngài, vào cách Ngài muốn bạn sống! Vấn đề ở chỗ, không phải những gì bạn muốn, nhưng Chúa muốn!” – Pavel Poloz.

Kính thưa Anh Chị em,
Có những lời cầu xin không bị từ chối, cũng không được đáp ngay. Không phải vì Thiên Chúa chậm trễ, mà vì ‘không phải lúc này’. Tin Mừng hôm nay cho thấy một đức tin trưởng thành: biết xin, nhưng cũng biết chờ; khao khát được chữa lành, nhưng còn khao khát hơn là ở lại trong ý muốn của Chúa.
“Lạy Ngài, nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch!”. Câu nói ấy bộc lộ một chiều sâu nội tâm hiếm có. Người phong cùi không đặt điều kiện, không ép thời gian, không đòi phép lạ tức khắc; anh đặt toàn bộ khát vọng của mình vào ý muốn của Chúa. Với anh, được ở trong chương trình của Ngài còn quan trọng hơn việc được khỏi bệnh. Ở đây, sự kiên nhẫn của một tâm hồn được tỏ lộ - dám ở lại trong khoảng chờ, kể cả khi khoảng chờ ấy kéo dài, mờ tối và đầy bất trắc. “Kiên nhẫn không phải là khả năng chờ đợi mà là cách bạn hành xử trong lúc đang chờ!” - Joyce Meyer.
Không phải ai cũng chịu nổi khoảng chờ đó. Nhiều người muốn khỏi bệnh hơn là muốn Đấng chữa lành; muốn kết quả hơn là muốn mối tương quan. Sự nôn nóng ấy có thể làm nhẹ phần xác, nhưng lại làm nghèo phần hồn. Khi vùng vằng với ‘không phải lúc này’, con người rơi vào bất an, tính toán, thậm chí thất vọng. Trái lại, việc mở lòng cho ‘thời điểm’ của Chúa cho phép ân sủng âm thầm chữa lành linh hồn trước khi chạm đến thân xác. Khoảng chờ ấy không vô nghĩa; nó thanh luyện ước muốn, làm dịu cái tôi, và tập cho con tim biết phó thác.
Rồi Chúa Giêsu nói, “Tôi muốn!”. Hành động đưa tay chạm vào người cùi không chỉ là chữa lành một thân xác biến dạng, mà còn phục hồi một linh hồn tưởng mình lẻ loi. Đôi khi, điều khó tin không phải là quyền năng của Chúa, mà là việc Ngài muốn đến gần chúng ta hơn chúng ta muốn đến gần Ngài. “Câu hỏi không phải là ‘Làm sao tôi tìm được Chúa?’ mà là ‘Làm sao để Ngài tìm được tôi?’” - Henri Nouwen.
Anh Chị em,
“Nếu Ngài muốn!”. Sau nguyên tội, con người mang trong mình khuynh hướng chiều theo ham muốn; chúng ta nghĩ tội nhẹ chỉ là “chuyện nhỏ” hoặc “không phải là tội trọng”. Nhưng ngay cả những tội nhẹ cũng âm thầm làm biến dạng hình ảnh Thiên Chúa nơi chúng ta. Vì thế, có những lúc, Chúa không vội cất đi “căn bệnh”, để chúng ta học ở lại trong khoảng chờ của ân sủng, của khiêm tốn, của sám hối, của cậy tin. Đừng sợ những ngày ‘không phải lúc này!’. Chính trong những ngày ấy, Thiên Chúa đang làm một công việc sâu hơn chúng ta tưởng. “Sự trì hoãn của Chúa không phải là bác bỏ; Ngài đang làm việc nơi chúng ta trước khi làm việc qua chúng ta!” - Oswald Chambers.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, xin cho con biết chờ trong bình an, tín thác khi chưa thấy kết quả, và chỉ sợ một điều duy nhất - xa Chúa!”, Amen.
Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)
=================
 
Thông tin khác:
 

 

 
 
 
 
Bài Giảng của Đức Cha Đaminh Hoàng Minh Tiến Trong Thánh Lễ Bế Mạc Năm Thánh 2025
Liên kết website

 

 

 

Tiêu điểm
Giáo xứ Hoàng Xá: Thánh lễ Chúa nhật II Mùa Chay và chia tay Cha phó Phanxicô Xaviê Lê Văn Tiến
Giáo xứ Hoàng Xá: Thánh lễ Chúa nhật II Mùa Chay và chia tay Cha phó Phanxicô Xaviê Lê Văn Tiến
Vào lúc 19g30 Chúa nhật II Mùa Chay, ngày 01/3/2026, tại Nhà Đa năng giáo xứ, cha Phanxicô Xaviê đã dâng Thánh lễ Tạ ơn, khép lại gần hai năm gắn bó và phục vụ tại Hoàng Xá trước khi lên đường nhận nhiệm sở mới. Trong thời gian ấy, cha đã hiện diện và thi hành sứ vụ qua nhiều vai trò: thầy mục vụ, phó tế và cha phó xứ.
Website giaophanhunghoa.org được phát triển bởi đơn vị thiết kế web: MIP™ (www.mip.vn - mCMS).
log