Thứ tư, 04/03/2026

Suy niệm Tin mừng thứ Hai sau Lễ Hiển Linh (Mt 4,12-17.23-25)

Cập nhật lúc 19:00 04/01/2026
 
Tin Mừng: Mt 4,12-17.23-25

Nước Trời đã đến gần.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

12 Khi ấy, Đức Giê-su nghe tin ông Gio-an đã bị nộp, Người lánh qua miền Ga-li-lê. 13 Rồi Người bỏ Na-da-rét, đến ở Ca-phác-na-um, một thành ven biển hồ Ga-li-lê, thuộc địa hạt Dơ-vu-lun và Náp-ta-li, 14 để ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a đã nói: 15 Này đất Dơ-vu-lun, và đất Náp-ta-li, hỡi con đường ven biển, và vùng tả ngạn sông Gio-đan, hỡi Ga-li-lê, miền đất của dân ngoại ! 16 Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng, những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi.

17 Từ lúc đó, Đức Giê-su bắt đầu rao giảng và nói rằng: “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần.”

23 Thế rồi Đức Giê-su đi khắp miền Ga-li-lê, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa hết mọi kẻ bệnh hoạn tật nguyền trong dân. 24 Danh tiếng Người đồn ra khắp xứ Xy-ri. Thiên hạ đem đến cho Người mọi kẻ ốm đau, mắc đủ thứ bệnh hoạn tật nguyền: những kẻ bị quỷ ám, kinh phong, bại liệt ; và Người đã chữa họ. 25 Từ miền Ga-li-lê, vùng Thập Tỉnh, thành Giê-ru-sa-lem, miền Giu-đê và vùng bên kia sông Gio-đan, dân chúng lũ lượt kéo đến đi theo Người.

====================

VƯỢT TĂM TỐI ĐẾN QUÊ TRỜI
(THỨ HAI SAU LỄ HIỂN LINH)

 
Qua Lời Tổng Nguyện của Thứ Hai Sau Hiển Linh hôm nay, các nhà phụng vụ muốn chúng ta xin Chúa chiếu giãi ánh sáng huy hoàng của Chúa vào tâm hồn chúng ta, nhờ đó, chúng ta sẽ đủ sức vượt qua cuộc đời tăm tối này, mà đạt tới quê trời vĩnh cửu.
 
Vượt qua cuộc đời tăm tối này, mà đạt tới quê trời vĩnh cửu, đem Tin Mừng giải thoát đến cho mọi người, như trong bài đọc một của giờ Kinh Sách, trích sách ngôn sứ Isaia: Sau những lời tuyên bố của chính Chúa Kitô tại hội đường Nadarét, chúng ta cũng có thể xem như nói về mình: lấy cả cuộc đời để loan báo và làm chứng về ơn giải thoát, mà Chúa Kitô đem đến cho con người bị tội lỗi giam hãm… Thần khí của Đức Chúa ngự trên tôi, vì Đức Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, sai đi báo tin mừng cho kẻ nghèo hèn. Băng bó những tấm lòng tan nát, công bố lệnh ân xá cho kẻ bị giam cầm, ngày phóng thích cho những tù nhân. Tôi phát xuất từ Thiên Chúa, và bởi Thiên Chúa mà đến. Tôi không tự mình mà đến, nhưng chính Người đã sai tôi.
 
Vượt qua cuộc đời tăm tối này, mà đạt tới quê trời vĩnh cửu, thi hành chức vụ vương đế, tư tế  ngôn sứ khi lãnh Bí Tích Rửa Tội, như trong bài đọc hai của giờ Kinh Sách, trích bài giảng của thánh Phêrô Kim Ngôn: Đấng đã muốn sinh ra cho chúng ta, lại không muốn chúng ta không nhận biết Người sao… Bảo vật các hiền sĩ dâng tiến Chúa ngày xưa đều ám chỉ các mầu nhiệm thánh. Vàng tượng trưng uy quyền bậc quân vương, nhũ hương nói lên chức vụ thượng tế, và một dược báo trước ngày Chúa chịu mai táng trong mồ. Các hiền sĩ vào nhà, thờ lạy Đấng cứu độ chúng ta, và dâng Người bảo vật tượng trưng những thực tại cao vời.
 
Vượt qua cuộc đời tăm tối này, mà đạt tới quê trời vĩnh cửu, tin nhận Đức Kitô là Đấng Cứu Độ duy nhất, như trong bài đọc một của Thánh Lễ, trích thư thứ nhất của thánh Gioan tông đồ: Hãy cân nhắc các thần khí xem có phải bởi Thiên Chúa hay không? Trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 2: Con cứ xin, rồi Cha ban tặng muôn dân nước làm sản nghiệp riêng. Vậy giờ đây, hỡi các vua chúa, hãy biết điều, thủ lãnh trần gian, nào tỉnh ngộ! Đem lòng kính sợ mà phụng thờ Đức Chúa, hãy khiếp run phủ phục dưới chân Người!
 
Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Đức Giêsu rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa hết mọi kẻ bệnh hoạn tật nguyền trong dân. Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu nói: Nước Trời đã đến gần. Nước Trời đã đến gần, ơn cứu độ của ta đã gần kề, ta hãy mau đem Tin Mừng giải thoát đến cho mọi người: Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng. Các ngôn sứ giả thuộc về thế gian; Còn chúng ta, chúng ta thuộc về Thiên Chúa. Ai không thuộc về Thiên Chúa, thì, không nghe chúng ta. Chúng ta cứ dựa vào đó mà nhận ra thần khí dẫn đến sự thật và thần khí làm cho sai lầm. ĐỨC CHÚA đã xức dầu tấn phong ta, sai ta đi báo tin mừng cho kẻ nghèo hèn, băng bó những tấm lòng tan nát, công bố lệnh ân xá cho kẻ bị giam cầm, ngày phóng thích cho những tù nhân. Thiên Chúa đã đến trong một thân xác phàm nhân. Nhờ vậy, thân phận người phàm mỏng manh vốn đã bị tối tăm vây phủ, không vì ngu muội, mà mất đi những gì họ đã được chiếm hữu nhờ ơn thánh, bởi vì, Đấng đã muốn sinh ra cho chúng ta, muốn chúng ta nhận biết Người. Người tỏ cho thấy mầu nhiệm yêu thương cao cả, để soi sáng và giải thoát ta khỏi tối tăm lầm lạc. Dân ngoại là những kẻ đến sau cùng, lại, thành người đến trước hết, vì nhờ đức tin của các nhà chiêm tinh bấy giờ, mà, niềm tin của lương dân được khai mở. Ước gì Chúa chiếu giãi ánh sáng huy hoàng của Chúa vào tâm hồn chúng ta, nhờ đó, chúng ta sẽ đủ sức vượt qua cuộc đời tăm tối này, mà đạt tới quê trời vĩnh cửu. Ước gì được như thế!

Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB

==================

LỜI MỜI GỌI LUÔN MỚI (Mt 4,12-17.23-25)
Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần.”
 
Kính thưa cộng đoàn,
Chủ nhật hôm qua, Chúng ta vừa mừng lễ Chúa Hiển Linh. Lễ Hiển Linh vừa nhắc ta rằng Chúa Giê-su là Ánh Sáng cho muôn dân. Hôm nay, Ánh Sáng đó được lan tỏa cách cụ thể trong bài Tin Mừng hôm nay. Chúa Giê-su khởi đầu sứ vụ nơi miền Ga-li-lê. Đối với người Do-thái, Ga-li-lê, vùng bị coi là xa trung tâm, bị xem thường, vùng dân ngoại. Chúa Giê-su đem ánh sáng đến với vùng ngoại biên. Quả thực, người dân ngoại nhận ra ngôi sao lạ và đến thờ lạy, là các nhà chiêm tinh từ Phương Đông đến. Thiên Chúa chủ động đến với con người. Ngài không đợi con người hoàn hảo rồi mới đến. Thiên Chúa chủ động đến với con người yếu đuối, bị xa lánh, bị bỏ quên và đến với cả nơi tối tăm nhất của con người. Thiên Chúa luôn mời gọi con người trở về để đón nhận ánh sáng. Lời mời gọi của Chúa Giê-su luôn luôn mới với mọi thời “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần.”
Lời rao giảng đầu tiên của Chúa Giê-su không phải là lên án hay kết án những tội nhân. Thiên Chúa dựng nên con người bằng sự yêu thương. Vậy mà, con người lại phản bội chống lại thánh ý Thiên Chúa và bị luận phạt. Luận phạt của Thiên Chúa không phải là sự ghét bỏ, mà Ngài muốn con người có thời gian nhìn nhận những tội lỗi đã phạm. Thiên Chúa sai Chúa Giê-su đến mời gọi con người sám hối để được khôi phục phẩm giá thuở ban đầu. Lời mời gọi sám hối không chỉ dừng lại ở việc buồn rầu vì tội, mà cần phải thay đổi hướng sống, trở về với ánh sáng thật. Sự thay đổi này cần hướng về Chúa Giê-su. Khi hướng về Chúa Giê-su, chúng ta đang hướng về Nước Trời. Thiên Chúa chữa lành những vết thương tội lỗi của con người nơi Chúa Giê-su. Chúa Giê-su đến gặp gỡ, băng bó và chữa lành cho từng người cùng toàn thể nhân loại.
Chúng ta được mời gọi sám hối mỗi ngày qua việc xét mình, xưng tội, làm việc đền tội và quyết tâm chừa cải. Mỗi ngày, chúng ta tự hỏi: Có điều gì trong suy nghĩ, lời nói, hành động của tôi đang kéo tôi xa Chúa? Tôi có dám để Chúa bước vào và thay đổi điều đó không? Mỗi người chúng ta có biết hướng về Nước Trời đang hiện diện trong trần gian. Và sự hiện diện đó ngay chính trong gia đình, bạn bè và những biến cố đang diễn ra trong cuộc sống không?
Lạy Chúa, xin cho con luôn biết lắng nghe lời mời gọi của Chúa trong suốt cuộc đời. A-men

Jos. Nguyễn

======================

LỜI CŨ, NGƯỜI MỚI
“Hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần!”.

“Một lần kia, tôi đồng tế trong một đám tang, linh mục giảng lễ kể một câu chuyện rất cảm động về tuổi thơ của mình. Tôi nhận ra đó là câu chuyện thời thơ ấu của tôi - chỉ khác là ngài không hề biết. Không sao!” - Mgr. James Vlaun.
Kính thưa Anh Chị em,
Tâm sự trên khiến chúng ta cười thầm; nhưng điều tương tự trong Tin Mừng hôm nay không cho phép chúng ta làm điều đó. Ngay từ đầu sứ vụ, Chúa Giêsu dường như cũng ‘mượn lại’ trọn vẹn lời của Gioan, “Hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần!”. Ở đây, mọi sự hoàn toàn khác! Bởi lẽ, ‘lời cũ’ nhưng ‘người mới’.
Gioan loan báo một Nước Trời đang đến, một thực tại còn ở phía trước, điều mà Gioan chỉ mơ hồ cảm nhận. Với Chúa Giêsu, Nước Trời không chỉ “đến gần”; nó đã có mặt. Ngài là Nước Trời mang một thân xác! Vì thế, cũng một lời, nhưng nó không còn là ‘lời hứa’, mà là ‘Lời làm người’ hiện diện sống động. “Nếu tôi dùng ngón tay Thiên Chúa mà trừ quỷ, thì quả là Nước Thiên Chúa đã đến giữa các ông!”. “Vương Quốc đã hiện diện ở những khai mở ban đầu, nhưng vẫn còn tương lai ở sự viên mãn của nó!” - Timothy J. Keller.
Cũng vậy, “sám hối” trên môi Chúa Giêsu không dừng lại ở hối hận hay day dứt về quá khứ, nhưng là một cuộc đổi hướng tận căn, một sự thay đổi từ bên trong; không phải quay lui, mà là dám để ân sủng Chúa - vì một tương lai mới - bẻ gãy những gì tôi đang quen sống. Nhiều khi, điều làm chúng ta chần chừ không phải vì quá khứ nặng nề, mà vì hiện tại ‘quá an toàn’. “Ân sủng là trạng thái trong đó không còn sự gượng gạo, khó nhọc, chần chừ hay lệch lạc; mọi sự diễn ra tự nhiên và hài hoà!” - William Hazlitt.
“Nước Trời đã đến gần”, vì nơi Chúa Giêsu, Thiên Chúa cúi xuống những phận người vỡ vụn, “Người ta đem đến cho Ngài mọi kẻ ốm đau, quỷ ám, bại liệt… và Ngài chữa lành”. “Chữa lành” không chỉ là chữa khỏi bệnh, mà khôi phục toàn vẹn xác hồn. Nước Trời không loại trừ điều hỏng hóc; trái lại, nó đến đúng nơi hỏng hóc nhất. “Nước Trời không phải là phần thưởng cho người công chính, mà là sự phục hồi cho kẻ tan vỡ!” - Dallas Willard. Đó là lý do của Giáng Sinh: Con Thiên Chúa nằm trong máng cỏ không phải để trang trí lịch sử, hoặc ghé ngang lịch sử, nhưng bước vào nó, mang lấy phận người và chu toàn sứ mệnh cứu độ đến cùng. Nước Trời không áp đặt bằng quyền lực, nhưng được trao ban bằng sự hiện diện khiêm hạ và tình yêu tự hiến.
Anh Chị em,
“Hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần!”. Lời ấy hôm nay vẫn vang lên. Câu hỏi không phải là lời ấy có mới không, mà là, “Tôi có cho phép Chúa Giêsu làm tôi nên ‘người mới’ không?”. Chúng ta có thể thích một Nước Trời “đến gần”, nhưng lại e ngại một Thiên Chúa “đến quá gần”, gần đến mức đụng chạm những chọn lựa, thói quen và vùng an toàn của bạn và tôi. “Hối tiếc sẽ chẳng làm gì được; hãy sám hối và làm điều gì đó!” - Israelmore Ayivor.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, Chúa vẫn nói mỗi ngày, con chỉ quen nghe mà không đổi thay. Xin đừng để con chỉ nghe ‘lời cũ’, mà dám để Lời uốn nắn con nên ‘người mới!’”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

==================

ÁNH SÁNG BỪNG LÊN TỪ VÙNG NGOẠI BIÊN

Khi nghe tin ông Gioan đã bị nộp, Đức Giêsu lánh qua miền Galilê. Lời tường thuật của Thánh Sử Mátthêu bắt đầu bằng một sự kiện có vẻ u tối và đầy bi kịch: người tiền hô, tiếng kêu trong hoang địa, đã bị xiềng xích, đã bị dập tắt bởi quyền lực của bóng tối. Đây là một khoảnh khắc có thể dẫn đến sự thất vọng, chùn bước. Con người ngay thẳng và can đảm nhất nói thay cho Thiên Chúa đã bị nộp. Thế nhưng, chính trong bối cảnh u ám đó, một hành động mang tính quyết định của Đức Giêsu đã diễn ra. Ngài không đối đầu trực diện với quyền lực của Hêrôđê tại Giuđê, cũng không rút lui vào sa mạc để ẩn mình. Ngài đã "lánh qua miền Galilê". Hành động này không phải là một sự trốn chạy vì sợ hãi, mà là một cuộc chuyển hướng chiến lược, một sự khởi đầu mang tính thần học sâu sắc. Galilê, đối với người Do Thái thời bấy giờ, không phải là một nơi danh giá. Nó nằm ở phía Bắc, xa cách trung tâm tôn giáo và chính trị là Giêrusalem và Đền Thờ. Vùng đất này có một lịch sử phức tạp, từng bị các đế quốc ngoại bang xâm chiếm, cai trị, và có một dân số pha tạp giữa người Do Thái và dân ngoại. Chính vì thế, nó thường bị giới lãnh đạo tôn giáo ở Giuđê coi là một vùng đất ô uế, một vùng ngoại biên, một nơi "tối tăm". Những người Galilê thường bị xem là quê mùa, dốt nát và không thuần chủng trong đức tin. Thế nhưng, Đức Giêsu đã chủ động chọn chính vùng đất bị khinh miệt này làm điểm khởi đầu cho sứ vụ công khai của mình. Ngài đã không bắt đầu tại Giêrusalem huy hoàng, mà tại "Galilê của dân ngoại". Sự lựa chọn này tự nó đã là một bài giảng không lời, một tuyên ngôn mạnh mẽ về bản chất của Nước Thiên Chúa mà Ngài sắp rao giảng. Nước Thiên Chúa không ưu tiên cho những trung tâm quyền lực, giàu có hay thuần khiết theo tiêu chuẩn của con người. Trái lại, ơn cứu độ của Thiên Chúa thường bắt đầu từ những nơi bé nhỏ, bị lãng quên, từ những tâm hồn bị xã hội và tôn giáo gạt ra bên lề.
Rồi Người bỏ Nadarét, đến ở Caphácnaum, một thành ven biển, trong vùng đất Dơvulun và Náptali, để ứng nghiệm lời ngôn sứ Isaia đã nói. Sự di chuyển của Đức Giêsu được Thánh Mátthêu mô tả rất chi tiết, không phải như một sự tình cờ, mà là để làm trọn một kế hoạch đã được Thiên Chúa định sẵn từ lâu. Nadarét, nơi Ngài đã sống suốt ba mươi năm ẩn dật, giờ đây được bỏ lại phía sau. Ngài đến Caphácnaum, một thành phố cảng sầm uất, một ngã tư đường nơi nhiều người qua lại, một nơi lý tưởng để Tin Mừng có thể lan tỏa nhanh chóng. Nhưng điều quan trọng hơn, Mátthêu nhấn mạnh rằng hành động này là để "ứng nghiệm" lời ngôn sứ Isaia. Bằng cách kết nối trực tiếp hành động của Đức Giêsu với lời Kinh Thánh, Mátthêu khẳng định rằng Đức Giêsu chính là Đấng mà toàn bộ Cựu Ước đã hướng về. Ngài không phải là một nhà cải cách xã hội hay một triết gia tự phát, mà là đỉnh cao của lịch sử cứu độ. Lời trích dẫn từ Isaia chương 9 thật sống động: "Hỡi đất Dơvulun và đất Náptali, hỡi con đường ven biển và vùng tả ngạn sông Giođan, hỡi Galilê của dân ngoại! Dân ngồi trong tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng, những kẻ ngồi trong vùng bóng tối của sự chết, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi." Lời sấm này ban đầu được nói ra trong bối cảnh vương quốc Israel phía Bắc bị đế quốc Assyria xâm chiếm, dân chúng bị đày ải, đất đai chìm trong lầm than và tuyệt vọng. Vùng Dơvulun và Náptali là những nơi đầu tiên phải chịu cảnh nô lệ, là biểu tượng của sự tối tăm cùng cực. Nhưng chính nơi bóng tối dày đặc nhất, ngôn sứ Isaia đã loan báo về một niềm hy vọng: một ánh sáng vĩ đại sẽ bừng lên. Ánh sáng đó không phải là ánh sáng của một cuộc giải phóng chính trị chóng qua, mà là ánh sáng của chính Thiên Chúa, ánh sáng của Đấng Mêsia sẽ đến. Bằng việc áp dụng lời sấm này cho Đức Giêsu, Mátthêu đang tuyên bố rằng: thời đại của lời hứa đã kết thúc, thời đại của sự ứng nghiệm đã bắt đầu. Đức Giêsu chính là Ánh Sáng đó. Sự hiện diện của Ngài tại Galilê đã biến vùng đất tối tăm nhất thành nơi đầu tiên được chiêm ngưỡng bình minh của ơn cứu độ.
Chủ đề ánh sáng và bóng tối là một trong những chủ đề xuyên suốt Kinh Thánh. Ngay từ trang đầu tiên của sách Sáng Thế, hành động sáng tạo đầu tiên của Thiên Chúa là tách ánh sáng ra khỏi bóng tối. Ánh sáng là biểu tượng của sự sống, của trật tự, của sự thánh thiện và sự hiện diện của Thiên Chúa. Bóng tối là biểu tượng của sự hỗn mang, của tội lỗi, của sự dữ và sự chết. Dân Israel trong hành trình sa mạc được dẫn dắt bởi cột lửa trong đêm tối. Thánh vịnh gia đã thốt lên: "Chúa là ánh sáng và là ơn cứu độ của tôi, tôi còn sợ gì ai?". Và giờ đây, trong Tân Ước, Đức Giêsu được giới thiệu là "Ánh Sáng thật, đến trong thế gian để chiếu soi mọi người". Sự xuất hiện của Ngài tại Galilê giống như một mặt trời công chính mọc lên, xua tan đi màn đêm của sự dốt nát, tội lỗi và tuyệt vọng. Bóng tối mà Isaia nói đến không chỉ là bóng tối của sự áp bức chính trị, mà còn sâu xa hơn, đó là bóng tối của sự chết, bóng tối của một nhân loại đang sống xa lìa Thiên Chúa, nguồn mạch sự sống. Khi Đức Giêsu đến, Ngài mang theo ánh sáng của sự thật về Thiên Chúa và về con người. Ngài mặc khải cho chúng ta một Thiên Chúa là Cha, một Thiên Chúa đầy yêu thương và tha thứ. Ngài chiếu soi cho chúng ta thấy phẩm giá cao quý của con người được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa. Ngài vạch trần bóng tối của tội lỗi và chỉ cho chúng ta con đường dẫn đến sự sống đời đời. Sự lựa chọn Galilê của Đức Giêsu là một thông điệp đầy hy vọng cho tất cả chúng ta. Có lẽ trong cuộc đời, có những lúc chúng ta cũng cảm thấy mình đang ở trong "vùng đất Dơvulun và Náptali", những vùng đất của bóng tối. Đó có thể là bóng tối của thất bại, của bệnh tật, của sự cô đơn, của những đổ vỡ trong các mối quan hệ, của những nghi ngờ trong đức tin, hay của gánh nặng tội lỗi. Tin Mừng hôm nay nói với chúng ta rằng, chính trong những vùng tối tăm đó, Chúa Giêsu muốn đến và làm cho ánh sáng của Ngài bừng lên. Ngài không chờ chúng ta phải trở nên hoàn hảo, phải thoát ra khỏi bóng tối rồi Ngài mới đến. Không, Ngài đến ngay giữa lúc chúng ta còn đang ngồi trong bóng tối. Ngài chính là niềm hy vọng cho những người tuyệt vọng, là sức mạnh cho những người yếu đuối, là sự tha thứ cho những người tội lỗi.
Sứ điệp về ánh sáng khởi đi từ vùng ngoại biên cũng là một lời mời gọi cho Hội Thánh và cho mỗi Kitô hữu. Đức Thánh Cha Phanxicô đã không ngừng nhắc nhở chúng ta phải là một "Hội Thánh đi ra", một Hội Thánh không chỉ quẩn quanh trong những cơ sở vật chất an toàn, trong những cộng đoàn quen thuộc, mà phải can đảm đi đến những vùng "ngoại biên" của xã hội. Những vùng ngoại biên đó có thể là những khu phố nghèo, những trại tị nạn, những bệnh viện, nhà tù, những trung tâm cai nghiện. Đó cũng có thể là những vùng ngoại biên của tâm hồn, nơi những con người đang sống trong sự cô đơn, tuyệt vọng, những người cảm thấy bị xã hội và cả Giáo Hội bỏ rơi. Chính ở những nơi đó, ánh sáng của Chúa Kitô cần được chiếu soi một cách cấp bách nhất. Chúng ta được mời gọi trở nên những người mang ánh sáng, những phản ảnh của Ánh Sáng là Đức Kitô. Chúng ta không thể giữ ánh sáng đó cho riêng mình. Ánh sáng chỉ có ý nghĩa khi nó được chia sẻ, khi nó xua tan bóng tối cho người khác. Hành động của chúng ta, lời nói của chúng ta, sự hiện diện của chúng ta phải trở nên những tia sáng của hy vọng, của tình yêu và của lòng thương xót Chúa cho những người chúng ta gặp gỡ. Chúng ta có can đảm bỏ lại "Nadarét" của sự an toàn, của những thành kiến, của sự thoải mái cá nhân, để đến với những "Caphácnaum" ồn ào, phức tạp của thế giới hôm nay không? Chúng ta có sẵn sàng trở nên những ngọn đèn nhỏ, cháy sáng trong những góc tối của gia đình, của nơi làm việc, của khu xóm mình không? Lễ Hiển Linh vừa qua đã cho chúng ta thấy hình ảnh các nhà chiêm tinh đi theo ánh sao. Hôm nay, Tin Mừng lại cho chúng ta thấy chính Đức Giêsu là Ánh Sao, là Ánh Sáng vĩ đại. Chúng ta, những người đã được diễm phúc thấy Ánh Sáng đó, cũng có bổn phận trở nên những ánh sao dẫn đường cho người khác. Đừng bao giờ khinh chê hay bỏ qua những "vùng Galilê" trong cuộc đời, bởi vì chính từ những nơi không ai ngờ tới, Thiên Chúa lại thích thực hiện những điều vĩ đại nhất. Hãy cầu xin Chúa cho chúng ta có được đôi mắt đức tin để nhận ra ánh sáng của Ngài đang bừng lên ngay cả trong những hoàn cảnh tối tăm nhất, và cho chúng ta có được lòng can đảm để trở nên những khí cụ mang ánh sáng của Ngài đến cho muôn người. Amen.

Lm. Anmai, CSsR

======================

"HÃY SÁM HỐI, VÌ NƯỚC TRỜI ĐÃ ĐẾN GẦN"

Từ lúc đó, Đức Giêsu bắt đầu rao giảng và nói rằng: "Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần." Câu nói ngắn gọn này là lời rao giảng đầu tiên của Đức Giêsu được Thánh Mátthêu ghi lại. Nó không chỉ là một câu nói, mà là một bản tuyên ngôn, tóm kết toàn bộ sứ điệp và sứ vụ của Ngài. Đây cũng chính là lời rao giảng mà Gioan Tẩy Giả đã công bố trước đó. Sự lặp lại này cho thấy có một sự liên tục giữa sứ vụ của người tiền hô và sứ vụ của Đấng Cứu Thế, nhưng đồng thời, với sự hiện diện của Đức Giêsu, lời mời gọi này mang một ý nghĩa hoàn toàn mới, một sự khẩn thiết và một quyền năng chưa từng có.
Toàn bộ Tin Mừng chỉ là sự diễn giải và làm sáng tỏ lời mời gọi kép này: sám hối và đón nhận Nước Trời. Đây là chìa khóa để hiểu được toàn bộ cuộc đời, cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu. Đây cũng là lời mời gọi nền tảng và thường xuyên nhất được gửi đến cho mỗi người Kitô hữu trong mọi thời đại. Để có thể sống trọn vẹn ơn gọi làm con Thiên Chúa, chúng ta không thể không đối diện và đáp trả một cách nghiêm túc lời kêu gọi khẩn thiết này. Vậy, "sám hối" nghĩa là gì? Và "Nước Trời" là gì mà lại "đến gần" và đòi hỏi một sự thay đổi tận căn như thế?
Trong ngôn ngữ thông thường, khi nghe đến từ "sám hối", chúng ta thường nghĩ đến việc hối hận vì những lỗi lầm đã phạm, việc ăn năn đấm ngực, việc xưng tội và làm việc đền tội. Những điều đó hoàn toàn đúng và cần thiết, nhưng chúng chỉ là những biểu hiện bên ngoài của một thực tại sâu xa hơn nhiều. Từ "sám hối" trong tiếng Hy Lạp của Tin Mừng là "metanoia". Từ này gồm hai phần: "meta" có nghĩa là "thay đổi, vượt lên trên", và "noia" bắt nguồn từ "nous", có nghĩa là "tâm trí, cách suy nghĩ, não trạng". Như vậy, "metanoia" không chỉ đơn thuần là hối tiếc về quá khứ, mà là một cuộc cách mạng trong tâm trí, một sự thay đổi hoàn toàn não trạng, một sự đảo lộn toàn bộ hệ thống giá trị và cách nhìn của một con người. Đó là việc quay lưng 180 độ lại với con đường cũ, với cách suy nghĩ cũ, để hướng về một hướng đi mới, một cách suy nghĩ mới. Đó không phải là việc sửa chữa một vài chi tiết nhỏ trong ngôi nhà cuộc đời, mà là việc phá bỏ nền móng cũ để xây dựng trên một nền tảng hoàn toàn mới. Con người cũ, với cách suy nghĩ theo kiểu thế gian – một lối suy nghĩ đặt cái tôi lên trên hết, coi trọng tiền bạc, quyền lực, danh vọng, lấy báo thù làm công lý, lấy sự hưởng thụ làm mục đích – phải chết đi, để con người mới, với cách suy nghĩ của Đức Kitô, được sinh ra. Cách suy nghĩ của Đức Kitô là cách suy nghĩ của Nước Trời, một lối suy nghĩ đặt Thiên Chúa và tha nhân lên trên bản thân, coi tình yêu thương là luật tối cao, lấy sự phục vụ làm vinh dự, lấy sự tha thứ làm sức mạnh, và lấy thập giá làm con đường dẫn đến vinh quang. Sám hối, do đó, là một quá trình liên tục, một cuộc chiến đấu không ngừng trong suốt cuộc đời để thay đổi não trạng của mình, để "mặc lấy tâm tình của Đức Kitô Giêsu". Nó đòi hỏi sự tỉnh thức để nhận ra những cách suy nghĩ sai lầm của thế gian đang len lỏi trong tâm trí chúng ta, và đòi hỏi sự can đảm để từ bỏ chúng và chọn lấy tư tưởng của Chúa.
Tại sao chúng ta phải thực hiện một cuộc cách mạng tận căn như vậy? Đức Giêsu đã cho chúng ta lý do: "vì Nước Trời đã đến gần." "Nước Trời" là một cụm từ đặc trưng của Tin Mừng Mátthêu, tương đương với "Nước Thiên Chúa" trong các Tin Mừng khác. Đây là chủ đề trung tâm của lời rao giảng của Đức Giêsu. Vậy Nước Trời là gì? Đó không phải là một vương quốc địa lý với biên giới và lãnh thổ. Đó cũng không phải là một thực tại chỉ tồn tại sau khi chúng ta chết. Nước Trời, trước hết, là sự hiện diện và hoạt động của chính Thiên Chúa, là triều đại của Ngài, là sự cai trị của tình yêu, công lý và bình an của Ngài đang xâm nhập vào lịch sử nhân loại. Khi Thiên Chúa làm Vua, khi thánh ý của Ngài được thực hiện, thì ở đó có Nước Trời. Trong Cựu Ước, dân Israel luôn mong đợi ngày Thiên Chúa thiết lập triều đại của Ngài một cách vĩnh viễn.
Và giờ đây, Đức Giêsu long trọng công bố: thời gian chờ đợi đã kết thúc, Nước Trời "đã đến gần". Chữ "đến gần" ở đây mang một ý nghĩa rất mạnh, nó có nghĩa là đã ở ngay đây, đã ở trong tầm tay, đã bắt đầu hiện diện. Nước Trời đã đến gần trong chính con người của Đức Giêsu. Ngài không chỉ rao giảng về Nước Trời, mà chính Ngài là hiện thân của Nước Trời. Nơi Ngài, Thiên Chúa đang làm Vua. Qua những lời giảng dạy, những phép lạ chữa lành, những hành động yêu thương và tha thứ của Ngài, triều đại của Thiên Chúa đang trở nên hữu hình và cụ thể giữa lòng thế giới. Nơi đâu có sự tha thứ thay cho hận thù, nơi đó có Nước Trời. Nơi đâu có sự chia sẻ thay cho ích kỷ, nơi đó có Nước Trời. Nơi đâu có sự thật giải thoát con người khỏi giả dối, nơi đó có Nước Trời. Nơi đâu người nghèo được lắng nghe, người bệnh được chữa lành, người tội lỗi được đón nhận, nơi đó Nước Trời đang hiện diện.
Mối liên hệ giữa sám hối và Nước Trời giờ đây trở nên rõ ràng. Sám hối là điều kiện không thể thiếu để có thể "thấy" và "vào" Nước Trời. Tại sao? Bởi vì chúng ta không thể sống trong hai vương quốc cùng một lúc. Chúng ta không thể vừa muốn Thiên Chúa làm Vua, lại vừa muốn cái tôi của mình làm vua. Chúng ta không thể vừa muốn sống theo luật yêu thương của Nước Trời, lại vừa bám víu vào luật hơn thua, ghen ghét của vương quốc thế gian. Sám hối chính là hành động lựa chọn dứt khoát: từ bỏ vương quốc của chính mình để đón nhận Vương Quốc của Thiên Chúa. Giống như việc chúng ta không thể đổ rượu mới vào bầu da cũ, chúng ta cũng không thể đón nhận Tin Mừng của Nước Trời với một não trạng cũ kỹ, ích kỷ.
Phải có một sự thay đổi từ bên trong, một sự hoán cải của con tim và khối óc. Đó là lý do tại sao lời mời gọi sám hối đi trước lời công bố về Nước Trời. Sám hối là cánh cửa duy nhất để bước vào thực tại mới mẻ và tuyệt vời mà Đức Giêsu mang đến. Nếu không có sám hối, Nước Trời vẫn ở đó, ngay trước mắt chúng ta, nhưng chúng ta sẽ không thể nhận ra, giống như những người biệt phái và luật sĩ thời Chúa Giêsu. Họ thấy những việc Chúa làm, nghe những lời Chúa dạy, nhưng vì lòng họ chai đá, vì não trạng họ đã bị đóng khung trong những quy tắc và định kiến, họ đã không nhận ra triều đại của Thiên Chúa đang diễn ra ngay giữa họ. Trái lại, những người tội lỗi, những người thu thuế, những người bị xã hội ruồng bỏ, vì ý thức được sự yếu đuối của mình, họ đã mở lòng ra để sám hối, và họ đã trở thành những công dân đầu tiên của Nước Trời.
Lời mời gọi "Hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần" không chỉ là một lời nói của quá khứ, mà vẫn vang vọng một cách khẩn thiết cho mỗi người chúng ta hôm nay. Sự khẩn thiết nằm ở chỗ Nước Trời không phải là một lựa chọn có thể trì hoãn. Nó "đã đến gần", nó đang ở đây và bây giờ, đòi hỏi một sự đáp trả ngay lập tức. Mỗi ngày sống là một cơ hội để chúng ta sám hối và đón nhận Nước Trời. Mỗi Thánh lễ là một lời nhắc nhở rằng Nước Trời đang hiện diện một cách đặc biệt nơi Lời Chúa và Thánh Thể. Lời Chúa mời gọi chúng ta hãy xét lại não trạng của mình. Chúng ta có đang suy nghĩ theo cách của Chúa hay theo cách của thế gian không? Chúng ta đánh giá thành công dựa trên tiêu chuẩn nào: sự giàu có, nổi tiếng hay sự trung thành với Tin Mừng? Chúng ta đối xử với người khác như thế nào: với tình yêu thương, sự tôn trọng hay với sự tính toán, lợi dụng? Chúng ta đối diện với đau khổ, thử thách ra sao: với niềm tin, cậy trông hay với sự oán trách, tuyệt vọng? Đó là những câu hỏi thực tế giúp chúng ta thực hành sự "metanoia" hàng ngày. Và Nước Trời cũng đang ở gần chúng ta qua những biến cố của cuộc sống. Một hành vi tử tế ta nhận được, một cơ hội để tha thứ cho người khác, một lời mời gọi để phục vụ người nghèo, một niềm vui đơn sơ trong gia đình – tất cả đều có thể là những dấu chỉ của Nước Trời đang hoạt động.
 Vấn đề là chúng ta có một tâm hồn đã được thanh luyện bởi sự sám hối để nhận ra hay không. Xin Chúa cho chúng ta đừng bao giờ chai lì trước lời mời gọi của Ngài. Xin cho chúng ta lòng can đảm để mỗi ngày thực hiện cuộc cách mạng "metanoia", để quay lưng lại với bóng tối của tội lỗi và cái tôi ích kỷ, và hướng trọn về ánh sáng của Nước Trời. Xin cho chúng ta biết khao khát Nước Trời hơn mọi sự, và biết xây dựng Nước Trời ngay tại thế này bằng một đời sống yêu thương, công chính và bình an, để mai sau chúng ta được hưởng hạnh phúc viên mãn trong Nước Trời vĩnh cửu. Amen.

Lm. Anmai, CSsR

======================

SỨ VỤ TOÀN DIỆN CỦA ĐỨC KITÔ VÀ LỜI MỜI GỌI CHO HỘI THÁNH

Sau khi công bố sứ điệp cốt lõi của mình về việc sám hối và Nước Trời, Tin Mừng Mátthêu không để chúng ta chỉ dừng lại ở lời nói. Thánh sử ngay lập tức cho chúng ta thấy Tin Mừng ấy được thể hiện bằng hành động như thế nào qua một đoạn văn tóm kết tuyệt vời về sứ vụ của Đức Giêsu. "Đức Giêsu đi khắp miền Galilê, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa hết mọi bệnh hoạn tật nguyền của dân." Câu văn ngắn gọn này phác họa một bức chân dung sống động và toàn diện về Đấng Cứu Thế. Sứ vụ của Ngài không phải là một sứ vụ đơn lẻ, phiến diện, mà là một hoạt động đa chiều, hài hòa, bao gồm ba khía cạnh không thể tách rời: Giảng dạy (Didaskon), Rao giảng (Kerysson), và Chữa lành (Therapeuon). Ba động từ này là ba trụ cột nâng đỡ toàn bộ sứ vụ của Đức Giêsu, và chúng cũng chính là bản thiết kế, là khuôn mẫu cho sứ vụ của Hội Thánh trong mọi thời đại.
Hiểu được sự toàn diện trong sứ vụ của Đức Giêsu là hiểu được bản chất và sứ mạng của chính chúng ta với tư cách là những người môn đệ, những chi thể trong thân thể mầu nhiệm của Ngài. Sức hấp dẫn lạ thường của Đức Giêsu, đến nỗi "dân chúng từ khắp miền Galilê, vùng Thập Tỉnh, thành Giêrusalem, miền Giuđê và vùng bên kia sông Giođan lũ lượt đi theo Người", không đến từ một tài năng riêng lẻ nào, mà đến từ sự hòa quyện tuyệt vời của Lời Nói và Hành Động, của Chân Lý và Tình Yêu.
Trụ cột đầu tiên trong sứ vụ của Đức Giêsu là "giảng dạy trong các hội đường". Động từ "giảng dạy" (didaskon) trong tiếng Hy Lạp mang ý nghĩa của việc giáo huấn, giải thích một cách có hệ thống, giúp người nghe hiểu sâu hơn về một chân lý nào đó. Hội đường là nơi dân chúng tụ họp hàng tuần để cầu nguyện và lắng nghe Lời Chúa trong Cựu Ước. Đức Giêsu đã sử dụng chính cơ cấu có sẵn này để thực thi sứ vụ giảng dạy của mình. Ngài không phá bỏ cái cũ, nhưng làm cho nó trở nên trọn vẹn. Ngài đến không phải để hủy bỏ Lề Luật hay các Ngôn Sứ, mà là để kiện toàn. Nội dung giảng dạy của Ngài là gì? Đó là việc mở ra cho dân chúng một sự hiểu biết mới và sâu sắc về Thiên Chúa và về ý muốn của Ngài. Ngài dạy họ về một Thiên Chúa không phải là một vị quan tòa khắt khe, mà là một người Cha nhân hậu (Abba). Ngài dạy họ về một lề luật không phải là một gánh nặng, mà là con đường dẫn đến tự do và hạnh phúc đích thực. Bài Giảng Trên Núi trong các chương 5, 6, 7 của Tin Mừng Mátthêu chính là một ví dụ tiêu biểu nhất cho hoạt động giảng dạy của Ngài.
Ở đó, Ngài giải thích lại các điều răn, đưa chúng về với tinh thần cốt lõi là tình yêu thương, và trình bày một hiến chương cho đời sống trong Nước Trời. Việc giảng dạy của Đức Giêsu không chỉ là truyền đạt kiến thức, mà là khai sáng tâm trí, uốn nắn lương tâm, và hình thành một lối sống mới cho các môn đệ. Hội Thánh tiếp nối sứ vụ giảng dạy này của Đức Giêsu qua nhiều hình thức: qua việc công bố và giải thích Lời Chúa trong phụng vụ, qua các văn kiện của Huấn Quyền, qua công tác giáo lý cho mọi lứa tuổi, qua các trường học và đại học Công giáo, qua việc đào tạo các linh mục, tu sĩ và giáo dân. Sứ vụ giảng dạy này vô cùng quan trọng, vì đức tin cần được nuôi dưỡng bằng sự hiểu biết. Một đức tin mù quáng, không dựa trên nền tảng giáo lý vững chắc, sẽ dễ dàng bị lung lạc trước những trào lưu tư tưởng của thời đại. Chúng ta có khao khát học hỏi, tìm hiểu sâu hơn về đức tin của mình không? Chúng ta có dành thời gian để đọc Kinh Thánh, để học giáo lý, để tìm hiểu những gì Hội Thánh dạy dỗ không? Đó là cách chúng ta tham gia vào sứ vụ giảng dạy của Chúa.
Trụ cột thứ hai, song song với giảng dạy, là "rao giảng Tin Mừng Nước Trời". Động từ "rao giảng" (kerysson) có một sắc thái khác với "giảng dạy". Nếu giảng dạy là giải thích, thì rao giảng là công bố, loan báo một tin tức quan trọng, một sự kiện có thật vừa xảy ra. Nó mang tính khẩn thiết và kêu gọi một sự đáp trả ngay lập tức. Nội dung của lời rao giảng này chính là "Tin Mừng Nước Trời". Tin Mừng đó là gì? Đó chính là "kerygma" - lời công bố cốt lõi của Kitô giáo: Thiên Chúa, vì yêu thương nhân loại, đã sai Con Một của Ngài là Đức Giêsu Kitô đến trần gian. Qua cuộc đời, cái chết và sự phục sinh của Ngài, tội lỗi đã bị đánh bại, sự chết đã bị tiêu diệt, và triều đại của Thiên Chúa đã được thiết lập. Đây là một tin vui, một tin tốt lành (eu-angelion) cho toàn thể nhân loại. Rao giảng là loan báo sự kiện vĩ đại này, là giới thiệu con người Đức Giêsu cho những người chưa biết Ngài. Sứ vụ rao giảng này thường hướng đến những người ở bên ngoài, trong khi giảng dạy thường dành cho những người đã ở trong cộng đoàn. Đây là sứ vụ truyền giáo, là việc đem Tin Mừng đến tận cùng trái đất. Đức Giêsu đã không chỉ ngồi yên trong các hội đường để giảng dạy cho những người Do Thái quen thuộc, Ngài còn đi khắp nơi, đến các làng mạc, các ngã ba đường để loan báo Tin Mừng cho tất cả mọi người.
Hội Thánh tiếp nối sứ vụ rao giảng này qua công cuộc truyền giáo cho các dân tộc, qua những nỗ lực tân phúc âm hóa trong các xã hội đã từng có truyền thống Kitô giáo nhưng nay đang trở nên tục hóa. Mỗi Kitô hữu, qua Bí tích Rửa Tội, cũng được mời gọi trở thành một nhà rao giảng Tin Mừng. Chúng ta có thể không phải là những nhà hùng biện, nhưng chính đời sống chứng tá của chúng ta, một đời sống yêu thương, vui tươi và hy vọng, đã là một lời rao giảng hùng hồn. Chúng ta có dám mở miệng để nói về niềm tin, về Đức Giêsu cho bạn bè, đồng nghiệp, cho những người xung quanh khi có cơ hội không? Sợ hãi, im lặng trước một thế giới đang khát chân lý chính là một sự phản bội lại mệnh lệnh truyền giáo của Chúa.
Trụ cột thứ ba, và là điều làm cho lời giảng dạy và rao giảng của Đức Giêsu trở nên đáng tin cậy một cách tuyệt đối, đó là Ngài đã "chữa hết mọi bệnh hoạn tật nguyền của dân". Lời nói của Ngài luôn đi đôi với hành động. Ngài không chỉ nói về tình thương của Thiên Chúa, mà Ngài còn thể hiện tình thương đó một cách cụ thể bằng việc chữa lành. Sứ vụ chữa lành (therapeuon) của Đức Giêsu mang một ý nghĩa rất toàn diện. Trước hết, đó là sự chữa lành về thể xác. Ngài chữa người mù được thấy, người què được đi, người câm nói được, người điếc nghe được. Những phép lạ này cho thấy quyền năng của Nước Trời đang hoạt động, một quyền năng có thể tái tạo và phục hồi lại trật tự tốt đẹp ban đầu của công trình sáng tạo. Nhưng sâu xa hơn, sự chữa lành của Đức Giêsu còn là sự chữa lành về tinh thần và tâm linh. Khi trừ quỷ, Ngài giải thoát con người khỏi sự kìm kẹp của quyền lực sự dữ. Khi tha thứ cho người tội lỗi, Ngài chữa lành vết thương sâu thẳm nhất trong tâm hồn con người, phục hồi lại mối tương quan đã bị cắt đứt với Thiên Chúa.
Hơn nữa, sự chữa lành của Ngài còn mang tính xã hội. Khi Ngài chạm vào người phong hủi, khi Ngài ăn uống với người thu thuế, Ngài đã chữa lành họ khỏi căn bệnh bị xã hội loại trừ, phục hồi lại phẩm giá và đưa họ tái hòa nhập vào cộng đoàn. Sứ vụ chữa lành của Đức Giêsu cho thấy Nước Trời mà Ngài loan báo không phải là một ý niệm trừu tượng, mà là một sức mạnh giải phóng con người một cách toàn diện, cả hồn lẫn xác. Hội Thánh tiếp nối sứ vụ chữa lành này của Đức Giêsu qua các Bí tích, đặc biệt là Bí tích Hòa Giải và Xức Dầu Bệnh Nhân. Hội Thánh cũng thực thi sứ vụ này qua hàng ngàn bệnh viện, cơ sở y tế, trung tâm chăm sóc người khuyết tật, người già neo đơn, trẻ mồ côi trên khắp thế giới. Hội Thánh chữa lành khi lên tiếng bảo vệ sự sống, bảo vệ phẩm giá con người, đấu tranh cho công lý và hòa bình, xoa dịu những vết thương do chia rẽ và hận thù gây ra. Mỗi chúng ta cũng có thể tham gia vào sứ vụ chữa lành này bằng một lời an ủi cho người đau khổ, một cử chỉ viếng thăm người bệnh tật, một hành động tha thứ cho người xúc phạm đến mình, một sự đóng góp cho công cuộc bác ái xã hội.
Giảng dạy, rao giảng và chữa lành. Ba khía cạnh này không thể tách rời nhau. Chúng là ba mặt của cùng một viên kim cương là sứ vụ của Đức Kitô. Lời giảng dạy mà không có hành động chữa lành, yêu thương sẽ trở thành lý thuyết suông, khô khan và giả dối. Hành động bác ái, chữa lành mà không được soi sáng bởi lời rao giảng và giảng dạy về Đức Kitô sẽ có nguy cơ trở thành một hoạt động từ thiện xã hội đơn thuần, mất đi chiều kích cứu độ. Sức mạnh và sức hấp dẫn của Đức Giêsu đến từ sự thống nhất hoàn hảo này. Dân chúng lũ lượt đi theo Ngài không chỉ vì Ngài nói hay, không chỉ vì Ngài làm phép lạ, mà vì họ thấy nơi Ngài một sự nhất quán tuyệt đối giữa lời nói và việc làm. Con người của Ngài chính là sứ điệp của Ngài. Đây là một thách đố lớn lao cho Hội Thánh và cho mỗi chúng ta. Thế giới hôm nay không thiếu những lời hay ý đẹp, cũng không thiếu những tổ chức từ thiện. Điều thế giới đang khao khát là những chứng nhân, những người có thể cho thấy một sự hòa quyện giữa chân lý và tình yêu, giữa đức tin và cuộc sống, giữa việc thờ phượng Thiên Chúa và việc phục vụ con người. Chúng ta có đang sống một đức tin toàn diện như vậy không? Hay đức tin của chúng ta bị què quặt, chỉ có Lời mà thiếu Việc, hoặc chỉ có Việc mà thiếu nền tảng đức tin? Xin Chúa Giêsu, vị Thầy, Đấng Rao Giảng và là Lương Y của tâm hồn và thể xác chúng con, giúp chúng con biết noi gương Ngài, để đời sống chúng con trở nên một Tin Mừng sống động, một sự phản chiếu trung thực sứ vụ toàn diện của Ngài, hầu có thể thu hút nhiều người đến với Ngài, Đấng là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Amen.

Lm. Anmai, CSsR

=====================

 

 
Thông tin khác:
 

 

 
 
 
 
Bài Giảng của Đức Cha Đaminh Hoàng Minh Tiến Trong Thánh Lễ Bế Mạc Năm Thánh 2025
Liên kết website

 

 

 

Tiêu điểm
Giáo xứ Hoàng Xá: Thánh lễ Chúa nhật II Mùa Chay và chia tay Cha phó Phanxicô Xaviê Lê Văn Tiến
Giáo xứ Hoàng Xá: Thánh lễ Chúa nhật II Mùa Chay và chia tay Cha phó Phanxicô Xaviê Lê Văn Tiến
Vào lúc 19g30 Chúa nhật II Mùa Chay, ngày 01/3/2026, tại Nhà Đa năng giáo xứ, cha Phanxicô Xaviê đã dâng Thánh lễ Tạ ơn, khép lại gần hai năm gắn bó và phục vụ tại Hoàng Xá trước khi lên đường nhận nhiệm sở mới. Trong thời gian ấy, cha đã hiện diện và thi hành sứ vụ qua nhiều vai trò: thầy mục vụ, phó tế và cha phó xứ.
Website giaophanhunghoa.org được phát triển bởi đơn vị thiết kế web: MIP™ (www.mip.vn - mCMS).
log