
Các ông thấy Đức Giê-su đi trên mặt biển.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.
45 Sau khi cho năm ngàn người được ăn no nê, lập tức, Đức Giê-su bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia trước, về phía thành Bết-xai-đa, trong lúc Người giải tán đám đông. 46 Sau khi cho họ đi, Người lên núi cầu nguyện. 47 Chiều đến, chiếc thuyền đang ở giữa biển hồ, chỉ còn một mình Người ở trên đất. 48 Người thấy các ông phải vất vả chèo chống vì gió ngược, nên vào khoảng canh tư đêm ấy, Người đi trên mặt biển mà đến với các ông, và Người định vượt các ông. 49 Nhưng khi các ông thấy Người đi trên mặt biển, lại tưởng là ma, thì la lên. 50 Quả thế, tất cả các ông đều nhìn thấy Người và đều hoảng hốt. Lập tức, Người bảo các ông: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ !” 51 Người lên thuyền với các ông, và gió lặng. Các ông cảm thấy bàng hoàng sửng sốt, 52 vì các ông đã không hiểu phép lạ bánh hoá nhiều: lòng các ông còn chai đá !
====================
MẶT TRỜI SÁNG SOI MỌI DÂN
(THỨ TƯ SAU LỄ HIỂN LINH)
Qua Lời Tổng Nguyện của Thứ Tư Sau Lễ Hiển Linh, các nhà phụng vụ muốn chúng ta ý thức rằng: Chúa là mặt trời sáng soi mọi dân nước, xin Chúa cho cả thế giới được hưởng thái bình, và cho luồng ánh sáng kỳ diệu xưa đã đưa các bậc hiền sĩ tới gặp Đức Kitô, nay cũng rực chiếu trong tâm hồn chúng ta nữa.
Mặt trời sáng soi mọi dân nước, bởi lòng Chúa đầy thương xót và lắm nghĩa giàu ân, như trong bài đọc một của giờ Kinh Sách, trích sách ngôn sứ Isaia: Mấy ngày trước, chúng ta đọc những bài thật phấn khởi trong một quang cảnh huy hoàng, nhưng trong thực tế, mọi sự xem ra còn xa vời. Hội Thánh tuy được các bí tích của Chúa Kitô tinh luyện, nhưng về nhiều mặt, vẫn như khách lưu giữa một thế giới đối nghịch. Xin Chúa đừng lãng quên chúng ta, và xin Người hãy bảo vệ công trình cứu độ của Người... Lạy Đức Chúa, tại sao Ngài lại để chúng con lạc xa đường lối Ngài? Tại sao Ngài làm cho lòng chúng con ra chai đá, chẳng còn biết kính sợ Ngài? Phải chi Ngài xé trời mà ngự xuống! Vì tình thương đối với tôi tớ là các chi tộc thuộc gia nghiệp của Ngài, xin Ngài mau trở lại.
Mặt trời sáng soi mọi dân nước, bởi ân sủng cứu độ, không phải, được biểu lộ cho một số người thôi, nhưng là, cho tất cả mọi người. như trong bài đọc hai của giờ Kinh Sách, trích bài giảng của thánh Pơróclô: Đức Kitô thánh hóa nguồn suối nước và chiếu soi tâm hồn nhân loại… Hôm nay Đức Kitô xuất hiện cho chúng ta, Người là ánh sáng khơi nguồn từ ánh sáng, là Đấng ông Gioan đã thanh tẩy trong sông Giođan. Chúng ta tin Người sinh bởi Đức Trinh Nữ Maria. Người vừa xuất hiện, trời liền mở ra, và tiếng Thiên Chúa Cha vọng xuống.
Mặt trời sáng soi mọi dân nước, bởi nhân loại đang lần bước giữa tối tăm, đang cần ánh sáng bừng lên chiếu rọi, như trong bài đọc một của Thánh Lễ, trích thư thứ nhất của thánh Gioan tông đồ: Nếu chúng ta yêu thương nhau, thì Thiên Chúa ở lại trong chúng ta. Trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 71: Lạy Chúa, muôn dân nước sẽ thờ lạy Ngài. Tâu Thượng Đế, xin ban quyền bính Ngài cho vị Tân Vương, trao công lý Ngài vào tay Thái Tử, để Tân Vương xét xử dân Ngài theo công lý, và bênh vực quyền lợi kẻ nghèo hèn.
Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Lạy Chúa Kitô, vinh danh Chúa là Đấng được loan truyền giữa muôn dân. Vinh danh Chúa là Đấng cả hoàn cầu tin kính. Trong bài Tin Mừng, thánh Máccô tường thuật lại: Các môn đệ thấy Đức Giêsu đi trên mặt biển. Đấng đi trên mặt biển chính là mặt trời soi sáng cho mọi dân nước, là Đấng được loan truyền giữa muôn dân: Người giải thoát bần dân kêu khổ và kẻ khốn cùng không chỗ tựa nương, chạnh lòng thương ai bé nhỏ khó nghèo. Mạng sống dân nghèo, Người ra tay tế độ. Hễ ai tuyên xưng Người là Con Thiên Chúa, thì, Thiên Chúa ở lại trong người ấy và người ấy ở lại trong Thiên Chúa. Thiên Chúa là tình yêu: ai ở lại trong tình yêu, thì, ở lại trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở lại trong người ấy. Hãy dâng lời ca tụng ĐỨC CHÚA, vì tất cả những gì Người đã thực hiện cho ta, và vì lòng nhân hậu lớn lao của Người: mặt trời công chính tắm trong sông Giođan, lửa dìm trong nước, và Thiên Chúa để cho con người thánh hóa; Xưa, nước hồng thủy đã giết chết loài người, nay, nước thanh tẩy, nhờ quyền năng của Đấng chịu thanh tẩy, đã đưa kẻ chết về cõi sống; Xưa, chim bồ câu ngậm cành ôliu ám chỉ hương thơm của Đức Kitô, nay, Thánh Thần hiện đến dưới hình bồ câu, cho thấy: Người là Chúa nhân từ; Xưa, các môn đệ hoảng sợ khi gặp cuồng phong, nay, ta vững tâm vì có Chúa đang lèo lái con thuyền Hội Thánh. Chúa là mặt trời sáng soi mọi dân nước, ước gì cả thế giới được hưởng thái bình, và ước gì luồng ánh sáng kỳ diệu xưa đã đưa các bậc hiền sĩ tới gặp Đức Kitô, được rực chiếu trong tâm hồn ta. Ước gì được như thế!
Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB
==================
KHỎI CHÌM
“Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!”.
Các nhà nghiên cứu cho biết: ba mươi năm trước, trẻ em sợ bóng tối, độ cao hay tiếng động lớn; ngày nay, trẻ sợ ly hôn, chiến tranh và bị bắt nạt. Những nỗi sợ này không làm chết ngay, nhưng bào mòn cảm giác được yêu thương; và trong bất an, con người cảm thấy như đang chết chìm.
Kính thưa Anh Chị em,
Như vậy, điều con người sợ nhất không chỉ là các biến cố, nhưng là sự thiếu vắng tình yêu. Lời Chúa hôm nay vang lên như một xác quyết: ở đâu có tình yêu, ở đó ‘khỏi chìm!’.
Tin Mừng không kể một câu chuyện lãng mạn về biển, nhưng kể một đêm rất thật - gió ngược, thuyền sắp chìm, sức người cạn kiệt. Điều làm các môn đệ hoảng loạn không hẳn là sóng lớn, mà là cảm giác ở một mình giữa mênh mông; đó là cảm giác thiếu vắng tình yêu - vốn luôn dấy lên sợ hãi! Chính trong khoảnh khắc ấy, Chúa Giêsu đến, không để trách móc, không để chứng tỏ quyền năng, nhưng để nói một lời đủ giữ họ lại: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây!”. “Tình yêu hoàn hảo loại trừ sợ hãi!” - bài đọc một.
Marcô ghi lại một chi tiết rất lặng, trong khi các môn đệ đang vật lộn với sóng gió, Chúa Giêsu đang đi cầu nguyện. Cầu nguyện không làm Ngài xa cách, trái lại, đặt Ngài vào trung tâm nỗi bấp bênh của con người. Chính từ cầu nguyện, Ngài bước ra, đi trên sóng, tiến về những người đang tuyệt vọng. Ngài không đến để dập tắt sóng, nhưng để giữ họ ‘khỏi chìm’. “Khổ đau không phải là cách Thiên Chúa trừng phạt, mà là cách Ngài mời gọi chúng ta đến gần Ngài hơn!” - Richard Foster.
Biển trong Thánh Kinh thường tượng trưng cho thế giới bất ổn; sóng là hình ảnh của những lực cản vượt tầm kiểm soát. Không ai được hứa là sẽ không gặp sóng; nhưng người tin được hứa, sóng không là tiếng nói sau cùng! Chúa Giêsu không kéo các môn đệ ra khỏi sóng; Ngài ở đó để thuyền không chìm. Ngài không đòi họ mạnh hơn sóng; Ngài cho họ biết họ đang được yêu thương. “Chúa Giêsu đã giẫm lên những con sóng; Ngài đặt mọi xáo trộn phù nề dưới chân mình. Tại sao Kitô hữu phải sợ?” - Augustinô. Khi mọi giải pháp nhân loại tỏ ra bất lực, bánh lái không còn hữu dụng và cánh buồm chỉ làm tăng nguy hiểm, điều còn lại không phải là đầu hàng, nhưng là ở lại và kêu cầu. Và chính trong sự ở lại ấy, ơn cứu độ hình thành. “Chúng ta phải ôm lấy nỗi đau và đốt nó như nhiên liệu cho hành trình của mình!” - Kenji Miyazawa.
Anh Chị em,
“Cứ yên tâm, chính Thầy đây!”. Chúa Giêsu không hứa cho ai một hành trình không sóng, nhưng hứa một sự hiện diện. Việc của chúng ta là nhận ra Ngài, kêu cầu Ngài. Cầu nguyện không chỉ khi còn mạnh, mà còn là khi không còn gì để nắm, khi thôi giả vờ mình có thể tự đứng vững. Chính nơi không còn gì ấy, sự hiện diện của Ngài nói rằng, con người vẫn được yêu thương; nhờ đó, nó không chìm, dù đang ở giữa sóng. “Đôi khi cách Thiên Chúa đáp lại không phải là loại bỏ áp lực, mà là tăng sức mạnh để chịu đựng nó!” - Elizabeth George.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, con không xin Chúa cất sóng khỏi đời con; chỉ xin Ngài ở lại. Con biết, niềm tin con mỏng như mặt nước, xin cho tình yêu Ngài đủ sâu để con ‘khỏi chìm!’”, Amen.
Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)
=====================
GIỮA BIỂN KHƠI BÃO TỐ, THẦY VẪN THẤY CON
Ngay sau khi làm phép lạ hóa bánh ra nhiều để nuôi đám đông dân chúng, Đức Giêsu liền bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia trước, trong khi Người giải tán họ. Câu mở đầu của trình thuật Tin Mừng hôm nay được bắt đầu bằng một sự khẩn trương, một sự thúc ép gần như là vội vã. Thánh sử Mác-cô dùng từ "liền", một từ rất quen thuộc trong văn phong của ngài, để diễn tả một hành động tức thời, không chậm trễ của Đức Giêsu. Ngài "bắt" các môn đệ xuống thuyền. Động từ "bắt" này cho thấy một sự quyết đoán, một mệnh lệnh có phần cưỡng ép, chứ không phải là một lời đề nghị nhẹ nhàng. Tại sao Đức Giêsu lại vội vã tách các môn đệ ra khỏi đám đông và ra khỏi chính Ngài như vậy?
Sau một phép lạ vĩ đại như thế, đáng lẽ Thầy trò phải ở lại cùng nhau để chia sẻ niềm vui, để củng cố đức tin, để tận hưởng thành quả của một ngày làm việc đầy ý nghĩa. Nhưng không, Đức Giêsu đã chủ động tạo ra một sự chia cắt. Các nhà chú giải Kinh Thánh đã đưa ra nhiều lý do. Có thể sau khi được ăn no, đám đông dân chúng đang ở trong một trạng thái phấn khích cao độ, họ muốn tôn Đức Giêsu lên làm vua, một vị vua trần thế theo kiểu Mêsia chính trị có thể giải quyết các vấn đề cơm áo gạo tiền cho họ. Đức Giêsu cần phải dập tắt ngay ngọn lửa nguy hiểm này, và Ngài cũng muốn bảo vệ các môn đệ khỏi sự cám dỗ của một thứ chủ nghĩa thành công, một thứ hào quang trần thế có thể làm lệch lạc sứ vụ của họ. Ngài muốn họ phải đối diện với một thực tại khác, một bài học khác, một thử thách khác.
Và thế là, Ngài đẩy họ ra biển. Con thuyền của các môn đệ từ từ rời bến, tiến ra giữa biển khơi mênh mông, trong khi Đức Giêsu một mình ở lại trên bờ để giải tán dân chúng. Hình ảnh này mang một ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Con thuyền đó chính là hình ảnh của Hội Thánh, hoặc cũng có thể là hình ảnh của cuộc đời mỗi người chúng ta. Chúng ta được Chúa sai đi, được Chúa "bắt" phải tiến ra giữa biển đời, một đại dương đầy những bất trắc, sóng gió và hiểm nguy. Chúng ta thường muốn ở lại trên bờ với Chúa, trong sự an toàn, trong cảm giác được che chở, nhưng Chúa lại muốn chúng ta phải ra khơi, phải đối diện với thực tại của cuộc sống, phải tự mình chèo chống để trưởng thành hơn trong đức tin.
Sau khi giải tán họ, Người lên núi cầu nguyện. Một mình đối diện với đám đông, rồi một mình lên núi. Hình ảnh Đức Giêsu thật cô đơn nhưng cũng thật mạnh mẽ. Sau một ngày làm việc mệt mỏi, sau một phép lạ tốn nhiều năng lượng, nhu cầu tự nhiên của con người là nghỉ ngơi, ăn uống. Nhưng Đức Giêsu đã chọn một con đường khác. Ngài tìm đến sự thinh lặng, tìm đến nơi thanh vắng trên núi cao để cầu nguyện, để gặp gỡ Cha của mình.
Đây là bí quyết, là nguồn mạch sức mạnh của Ngài. Chính trong những giây phút kết hợp thân mật với Chúa Cha mà Ngài tìm lại được sự bình an, được định hướng lại sứ vụ, và kín múc được năng lượng thần linh để tiếp tục hành trình. Hành động này của Đức Giêsu là một bài học vô giá cho các môn đệ và cho mỗi chúng ta. Trong cuộc sống bận rộn, hối hả, chúng ta thường bị cuốn đi bởi công việc, bởi những lo toan, bởi những thành công hay thất bại. Chúng ta dễ dàng quên đi việc dành thời gian cho Chúa, quên đi việc cầu nguyện. Chúng ta nghĩ rằng cầu nguyện là mất thời gian, là không thực tế.
Nhưng Đức Giêsu lại cho thấy điều ngược lại: cầu nguyện không phải là một sự trốn chạy thực tại, mà là cách tốt nhất để đối diện với thực tại. Chính trong cầu nguyện mà chúng ta tìm thấy được ánh sáng, sức mạnh và sự khôn ngoan để chèo chống con thuyền cuộc đời. Trong khi các môn đệ đang vật lộn với sóng gió ngoài biển khơi, thì trên núi cao, Thầy của họ đang cầu nguyện. Ngài đang ở với họ bằng một cách khác, một cách vô hình nhưng vô cùng hiệu quả. Lời cầu nguyện của Ngài như một chiếc neo thiêng liêng, giữ cho con thuyền của các môn đệ không bị chìm đắm. Điều này mang lại cho chúng ta một niềm an ủi lớn lao. Trong những lúc chúng ta gặp khó khăn, thử thách, trong những cơn bão tố của cuộc đời, có thể chúng ta cảm thấy Chúa ở xa, Chúa im lặng, nhưng chúng ta hãy tin rằng, từ một "ngọn núi" nào đó, Ngài vẫn đang cầu nguyện cho chúng ta. Ngài vẫn đang chuyển cầu cùng Chúa Cha cho chúng ta. Ngài không bao giờ bỏ rơi chúng ta.
Chiều đến, chiếc thuyền đã ra giữa biển hồ, còn Người thì ở một mình trên đất. Người thấy các ông phải vất vả chèo chống vì gió ngược. Khung cảnh trở nên thật kịch tính. Màn đêm buông xuống, con thuyền nhỏ bé của các môn đệ đã ở giữa biển hồ, cách xa bờ, hoàn toàn trơ trọi và đơn độc. Trong khi đó, Chúa Giêsu vẫn ở trên đất, một mình. Sự cách biệt về không gian càng làm nổi bật sự bất lực của các môn đệ và sự hiện diện có vẻ xa xôi của Chúa. Nhưng Tin Mừng cho chúng ta một chi tiết vô cùng quan trọng: "Người thấy các ông". Mặc dù ở xa, mặc dù trời tối, nhưng với đôi mắt của Thiên Chúa, không có gì có thể bị che khuất. Từ trên núi cao, Chúa Giêsu vẫn dõi theo từng nhịp chèo, từng nỗ lực của các môn đệ. Ngài thấy họ đang phải "vất vả chèo chống".
Ngài thấy cơn "gió ngược" đang cản trở mọi cố gắng của họ. Họ càng ra sức chèo, con thuyền dường như càng đứng yên, thậm chí bị đẩy lùi. Cơn gió ngược này là hình ảnh của tất cả những gì chống lại chúng ta trong cuộc đời: những khó khăn, bệnh tật, những thất bại, những sự hiểu lầm, những cám dỗ, những cuộc bách hại, và cả những cơn sóng ngầm trong chính tâm hồn chúng ta. Chúng ta cũng có những lúc cảm thấy mình đang "vất vả chèo chống vì gió ngược". Chúng ta nỗ lực hết mình trong công việc, trong gia đình, trong đời sống thiêng liêng, nhưng dường như mọi thứ đều chống lại chúng ta, không có gì tiến triển. Chúng ta cảm thấy mệt mỏi, kiệt sức và muốn buông xuôi tất cả.
Trong những lúc như thế, lời Tin Mừng hôm nay như một tia sáng: "Người thấy các ông". Chúa thấy! Chúa biết! Chúa hiểu rõ tất cả những vất vả, những nỗ lực, những giọt mồ hôi và cả những giọt nước mắt của chúng ta. Ngài không phải là một vị Thiên Chúa xa lạ, dửng dưng trước những đau khổ của con người. Ngài là một người Cha, một người Thầy luôn dõi theo con cái mình với một ánh mắt đầy yêu thương và quan tâm. Sự nhận biết này, niềm tin rằng Chúa đang thấy chúng ta, là nguồn sức mạnh và an ủi vô biên. Chúng ta không hề đơn độc trong cuộc chiến của mình. Có một Đấng đang nhìn chúng ta, đang đồng cảm với chúng ta, và đang chờ đợi thời điểm thích hợp để can thiệp. Niềm tin ấy giúp chúng ta kiên trì chèo chống, không phải bằng sức riêng của mình, mà bằng sức mạnh đến từ niềm xác tín rằng có Chúa đang ở cùng.
Vào khoảng canh tư đêm ấy, Người đi trên mặt biển mà đến với các ông. Canh tư đêm là khoảng thời gian từ 3 đến 6 giờ sáng. Đó là khoảnh khắc tăm tối nhất, lạnh lẽo nhất của đêm dài, là lúc con người mệt mỏi nhất và dễ tuyệt vọng nhất. Chính trong thời điểm cùng cực đó, Chúa Giêsu đã đến. Ngài không đến sớm hơn, khi họ còn sức lực. Ngài để cho họ chiến đấu, để cho họ cảm nghiệm được sự yếu đuối và bất lực của mình. Ngài muốn họ nhận ra rằng, chỉ với sức riêng, họ không thể làm được gì. Và khi họ đã gần như kiệt sức, Ngài đã xuất hiện. Sự can thiệp của Chúa không phải lúc nào cũng tức thời theo ý chúng ta muốn. Ngài có thời điểm của Ngài, một thời điểm sư phạm, một thời điểm của tình yêu, nhằm giúp chúng ta trưởng thành hơn. Và cách Ngài đến cũng thật đặc biệt: Ngài đi trên mặt biển.
Trong Cựu Ước, chỉ có một mình Thiên Chúa mới có quyền năng "đi trên sóng cả" (Gióp 9,8). Biển cả là biểu tượng của sự hỗn mang, của quyền lực sự dữ, của cái chết. Bằng việc đi trên mặt biển, Chúa Giêsu đang biểu lộ thần tính của mình. Ngài cho thấy Ngài là Chúa của cả vũ trụ, là Đấng có quyền năng trên cả những thế lực của sự dữ và sự chết.
Ngài đến với các môn đệ không phải bằng cách bơi lội hay dùng một chiếc thuyền khác, mà bằng chính quyền năng thần linh của mình, để cho họ thấy rằng Đấng đang ở với họ không chỉ là một người thầy, một nhà giảng thuyết, mà là chính Thiên Chúa. Ngài đến để đưa họ từ một đức tin còn non nớt sang một sự nhận biết sâu sắc hơn về căn tính thật của Ngài. Nhưng trớ trêu thay, sự biểu lộ thần linh này lại không được đón nhận. Các môn đệ, thay vì vui mừng, lại "hoảng sợ". Họ tưởng là ma. Sự sợ hãi, mệt mỏi và những quan niệm cũ đã làm cho mắt họ ra mù tối. Họ không thể nhận ra Thầy mình trong một hình dạng phi thường như vậy. Họ nhìn thấy một sự kiện siêu nhiên nhưng lại diễn giải nó theo cách mê tín của con người. Điều này cho thấy khoảng cách lớn lao giữa cái nhìn của Thiên Chúa và cái nhìn của con người. Nó cũng là một lời cảnh báo cho chúng ta.
Nhiều khi, Chúa đến với chúng ta trong những hình thức bất ngờ, qua những biến cố mà chúng ta không hiểu được, thậm chí qua những đau khổ, thử thách. Và thay vì nhận ra bàn tay yêu thương của Chúa, chúng ta lại hoảng sợ, oán trách, cho đó là ma quỷ, là sự trừng phạt. Chúng ta cần phải cầu xin Chúa thanh tẩy con mắt đức tin của mình, để có thể nhận ra sự hiện diện của Ngài trong mọi hoàn cảnh, dù là lúc biển lặng hay khi sóng gào. Xin Chúa cho chúng ta, mỗi khi thấy mình đang vất vả chèo chống giữa biển đời, hãy nhớ rằng từ trên núi cao, Thầy vẫn đang cầu nguyện và dõi theo chúng ta. Và dù cho Ngài có đến vào canh tư của đêm tối, trong những hình thức mà chúng ta không ngờ tới, xin cho chúng ta đừng hoảng sợ, nhưng hãy vững tin rằng đó chính là Thầy, Đấng đến để cứu chúng ta khỏi chìm đắm. Amen.
Lm. Anmai, CSsR
=====================
"CỨ AN TÂM, THẦY ĐÂY, ĐỪNG SỢ!"
Trình thuật Tin Mừng theo thánh Mác-cô về việc Đức Giêsu đi trên mặt biển là một trong những trang Tin Mừng giàu kịch tính và ý nghĩa thần học nhất. Nó không chỉ đơn thuần là một câu chuyện kể về một phép lạ kỳ vĩ, mà còn là một cuộc Thần hiện (theophany) – một sự tỏ mình, một sự mặc khải về căn tính sâu thẳm của Đức Giêsu. Giữa đêm tối, giữa sóng gió biển khơi, khi các môn đệ đang ở trong tận cùng của sự sợ hãi và bất lực, Đức Giêsu đã đến với họ một cách thật phi thường.
Nhưng phản ứng của họ lại là sự kinh hoàng. Họ không nhận ra Thầy, họ tưởng là ma. Và chính trong khoảnh khắc của sự hiểu lầm và sợ hãi tột độ đó, ba câu nói ngắn gọn của Đức Giêsu đã vang lên, trở thành tâm điểm của toàn bộ trình thuật, và cũng là sứ điệp cốt lõi cho tất cả những ai đang phải đối diện với bão tố trong cuộc đời: "Cứ an tâm, Thầy đây, đừng sợ!". Ba câu nói này không chỉ là một lời trấn an tâm lý, mà là một lời tuyên xưng thần linh, một nguồn mạch của bình an và sức mạnh, một lời mời gọi đức tin sâu sắc. Chúng ta hãy cùng nhau chiêm ngắm và để cho ba câu nói này thấm vào tâm hồn, để chúng có thể trở thành chiếc phao cứu sinh cho chúng ta giữa biển đời.
Trước hết, hãy cùng nhìn lại bối cảnh. Các môn đệ đang ở giữa biển, vật lộn với cơn gió ngược. Họ mệt mỏi, kiệt sức và có lẽ đã bắt đầu tuyệt vọng. Bỗng nhiên, họ thấy một bóng người đi trên mặt nước. Trong tâm thức của người Do Thái, biển là nơi ở của các thế lực hỗn mang, của sự dữ. Một bóng người xuất hiện giữa biển trong đêm tối chỉ có thể là ma quỷ, là một điềm gở. Nỗi sợ hãi tự nhiên trước sóng gió giờ đây được cộng thêm một nỗi sợ hãi siêu nhiên, một sự kinh hoàng đến tột độ. Thánh Mác-cô nhấn mạnh: "Tất cả các ông đều thấy Người và đều hoảng sợ." Nỗi sợ này làm cho họ ra mù quáng, không còn khả năng nhận định. Họ thấy nhưng không nhận ra.
Họ nhìn thấy Đấng Cứu Độ nhưng lại nghĩ là ma quỷ. Đây là một hình ảnh rất thật về tình trạng của con người khi bị nỗi sợ hãi chi phối. Sợ hãi bóp méo thực tại. Sợ hãi làm cho chúng ta nhìn đâu cũng thấy nguy hiểm, nhìn đâu cũng thấy kẻ thù. Sợ hãi làm cho chúng ta không thể nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa, dù Ngài đang ở rất gần. Trong cuộc sống, chúng ta cũng có những "bóng ma" của riêng mình. Đó có thể là bóng ma của bệnh tật, của thất bại, của sự cô đơn, của cái chết, của một tương lai bất định. Những bóng ma đó ám ảnh chúng ta, làm cho chúng ta mất ăn mất ngủ, và tê liệt mọi khả năng hành động. Chúng ta cũng giống như các môn đệ trong con thuyền, la lên vì sợ hãi, và không còn nhận ra được gì nữa. Chính trong bối cảnh đen tối đó, lời nói của Đức Giêsu vang lên như một tia sét xé tan màn đêm.
"Cứ an tâm!" (Tharseite!). Đây là lời đầu tiên. Nó có nghĩa là hãy can đảm lên, hãy vững lòng. Đây không phải là một sự lạc quan tếu, không phải là một lời nói suông để động viên. Khi Đức Giêsu nói lời này, nó mang một quyền năng sáng tạo. Lời của Ngài có sức mạnh ban tặng chính sự can đảm mà nó kêu gọi. Giữa một tình huống không có gì để an tâm, Ngài lại ra lệnh cho họ phải an tâm. Tại sao? Bởi vì sự an tâm của người môn đệ không được xây dựng trên hoàn cảnh bên ngoài – biển có lặng hay không, gió có ngừng thổi hay không – mà được xây dựng trên một nền tảng duy nhất: sự hiện diện của chính Ngài.
Lời mời gọi "cứ an tâm" là một lời mời gọi hãy chuyển sự chú ý của mình từ những con sóng đáng sợ bên ngoài vào chính Đấng đang nói với mình. Bao lâu các môn đệ còn nhìn vào sóng gió, họ còn sợ hãi. Nhưng khi họ hướng về Đức Giêsu, họ sẽ tìm thấy sự bình an. Đây là một bài học căn bản của đời sống thiêng liêng. Khi chúng ta gặp khó khăn, chúng ta thường có xu hướng tập trung toàn bộ tâm trí của mình vào vấn đề đó. Chúng ta suy đi tính lại, lo lắng, phân tích, và càng làm thế, chúng ta càng chìm sâu vào sự sợ hãi và bối rối. Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy làm một điều ngược lại: hãy dời cái nhìn của mình khỏi vấn đề và hướng nó về Chúa. Hãy tin tưởng rằng Ngài lớn hơn mọi cơn bão. Hãy trao phó những lo lắng của mình cho Ngài, và Ngài sẽ ban cho chúng ta sự can đảm để đối diện. An tâm không có nghĩa là vấn đề sẽ biến mất ngay lập tức, nhưng có nghĩa là chúng ta có Chúa ở cùng để vượt qua vấn đề đó.
"Thầy đây!" (Ego eimi!). Đây là câu nói trung tâm và quan trọng nhất. Thoạt nghe, nó có vẻ đơn giản, chỉ là một lời tự giới thiệu: "Là Thầy đây mà". Nhưng trong nguyên ngữ Hy Lạp, "Ego eimi", và đặc biệt trong bối cảnh của một cuộc thần hiện như thế này, nó mang một âm hưởng vô cùng sâu sắc. "Ego eimi" chính là cách dịch ra tiếng Hy Lạp của danh thánh Thiên Chúa mà Ngài đã mặc khải cho Môsê trong bụi gai cháy: "Ta là Đấng Hằng Hữu" (Xuất hành 3,14). Khi Đức Giêsu nói "Ego eimi", Ngài không chỉ nói rằng "đó là tôi, Giêsu, thầy của các anh", mà Ngài đang mặc khải một cách kín đáo nhưng rõ ràng về thần tính của mình. Ngài đang nói: "Ta là Thiên Chúa, Đấng đang hiện hữu, Đấng làm chủ lịch sử và vũ trụ, đang ở đây với các con".
Đây chính là câu trả lời tối hậu cho mọi nỗi sợ hãi của con người. Con người sợ hãi vì cảm thấy mình nhỏ bé, hữu hạn, trước những thế lực của sự dữ và sự chết. Nhưng nếu Thiên Chúa, Đấng Hằng Hữu, Đấng Tạo Hóa, ở cùng chúng ta, thì chúng ta còn sợ gì nữa? Việc Ngài đi trên mặt biển đã là một hành động biểu lộ thần tính. Bây giờ, lời nói của Ngài xác nhận điều đó. Ngài là Chúa của sóng gió, là Chúa của biển cả. Ngài không chỉ là một con người phi thường, mà là chính Thiên Chúa làm người.
Sự mặc khải này là một bước ngoặt trong hành trình đức tin của các môn đệ, dù lúc đó họ chưa hiểu hết. Đối với chúng ta hôm nay, lời "Thầy đây!" cũng là một lời mặc khải và một lời mời gọi. Mỗi khi chúng ta sợ hãi, hãy lắng nghe tiếng Chúa thì thầm trong tâm hồn: "Thầy đây!". Thầy đang ở đây, trong Bí tích Thánh Thể. Thầy đang ở đây, trong Lời của Thầy. Thầy đang ở đây, trong người anh em bên cạnh. Thầy đang ở đây, ngay cả trong chính cơn bão tố mà con đang gặp phải. Nhận ra sự hiện diện của "Đấng Hằng Hữu" trong mọi biến cố của cuộc đời là bí quyết để có được sự bình an thật sự.
"Đừng sợ!" (Me phobeisthe!). Đây là câu nói kết luận, là hệ quả tất yếu của hai câu trước. Bởi vì Thầy đây, Đấng Hằng Hữu đang ở đây, nên các con không có lý do gì để sợ hãi. Cụm từ "Đừng sợ" được lặp đi lặp lại hơn 300 lần trong Kinh Thánh. Nó gần như là một điệp khúc của Thiên Chúa mỗi khi Ngài hiện ra hay can thiệp vào lịch sử nhân loại. Từ Abraham, Môsê, đến các ngôn sứ, đến Đức Mẹ Maria, đến các mục đồng và các phụ nữ bên mồ Chúa, tất cả đều được nghe lời trấn an này. Tại sao? Bởi vì sự thánh thiện và vĩ đại của Thiên Chúa tự nó gây ra một sự kính sợ nơi con người tội lỗi và hữu hạn. Nhưng Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô không muốn chúng ta sợ hãi Ngài theo kiểu của một nô lệ sợ chủ. Ngài muốn chúng ta có một sự kính sợ của con cái đối với người Cha. Ngài muốn chúng ta đến với Ngài trong sự tin tưởng và yêu mến.
Lời mời gọi "Đừng sợ" là một lời giải phóng. Nó giải thoát chúng ta khỏi gánh nặng của mặc cảm tội lỗi, khỏi nỗi lo sợ bị trừng phạt, khỏi sự sợ hãi chính Thiên Chúa. Đồng thời, nó cũng giải thoát chúng ta khỏi những nỗi sợ hãi thế gian. Nếu chúng ta không còn sợ Thiên Chúa một cách sai lầm, chúng ta cũng sẽ không còn sợ bất cứ điều gì khác. Nếu Thiên Chúa ở với chúng ta, thì ai có thể chống lại chúng ta? Không có một cơn bão nào, một quyền lực nào, một sự dữ nào có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô. Sau khi nói ba lời này, Đức Giêsu đã "lên thuyền với các ông, và gió lặng". Sự hiện diện của Ngài đã mang lại bình an. Lời của Ngài đã xua tan sợ hãi.
Con thuyền của các môn đệ, cũng là con thuyền của Hội Thánh và của mỗi chúng ta, chỉ có thể tìm thấy sự bình an và vượt qua sóng gió khi có Chúa Giêsu ở trên thuyền. Ngày hôm nay, chúng ta hãy mang theo ba câu nói quý giá này vào trong cuộc sống. Mỗi khi bão tố nổi lên, mỗi khi những bóng ma của sự sợ hãi hiện về, chúng ta hãy nhắm mắt lại và lắng nghe tiếng Thầy: "Cứ an tâm, Thầy đây, đừng sợ!". Và chúng ta hãy mở cửa con thuyền tâm hồn mình ra để rước Ngài vào, vì chỉ nơi Ngài, chúng ta mới có được sự bình an mà thế gian không thể ban tặng. Amen.
Lm. Anmai, CSsR
=====================
LÒNG TIN NON KÉM VÀ TRÁI TIM CHAI ĐÁ
Trình thuật Tin Mừng về việc Đức Giêsu đi trên mặt biển không chỉ dừng lại ở việc mô tả một phép lạ kỳ vĩ hay một lời mặc khải về thần tính của Đức Giêsu. Thánh sử Mác-cô, trong văn phong ngắn gọn và sắc bén của mình, đã kết thúc câu chuyện bằng một lời bình luận đầy ý nghĩa, một nhận xét có phần gay gắt về chính các môn đệ, những người thân cận nhất của Chúa. "Các ông hết sức kinh ngạc, vì các ông đã không hiểu gì về phép lạ bánh hóa nhiều, lòng các ông còn chai đá." Lời bình luận này giống như một nhát cắt, phơi bày thực trạng đức tin của các Tông đồ và cũng là một lời cảnh tỉnh sâu sắc cho mỗi chúng ta.
Tại sao sau khi chứng kiến một cuộc thần hiện, sau khi được Thầy trấn an và làm cho sóng yên biển lặng, các ông lại chỉ "hết sức kinh ngạc" mà không phải là vui mừng hay thờ lạy trong sự hiểu biết? Tại sao lòng các ông lại bị coi là "chai đá"? Lời giải thích của Mác-cô nằm ở một sự kiện trước đó: phép lạ bánh hóa nhiều. Sự liên kết giữa hai phép lạ này chính là chìa khóa để chúng ta hiểu được đâu là nguyên nhân của một đức tin non kém, một trái tim chai đá, và làm thế nào để có thể chữa lành nó.
Trước hết, chúng ta hãy phân tích trạng thái của các môn đệ: "hết sức kinh ngạc". Sự kinh ngạc này không phải là sự thán phục của một đức tin trưởng thành, không phải là một tiếng "Aha!" của sự vỡ lẽ chân lý. Trái lại, đó là một sự kinh ngạc của người bị choáng ngợp, bị sốc, không thể hiểu nổi chuyện gì đang xảy ra. Nó giống như sự ngỡ ngàng của một người thấy một ảo thuật gia tài ba, chứ không phải là sự phủ phục của một thụ tạo trước Đấng Tạo Hóa. Họ vẫn còn ở bề mặt của sự kiện, chưa đi vào chiều sâu của ý nghĩa. Họ thấy quyền năng nhưng chưa nhận ra căn tính của Đấng sở hữu quyền năng đó. Sự kinh ngạc này cho thấy một khoảng cách, một sự xa lạ vẫn còn tồn tại giữa họ và Thầy của mình. Dù đã ở trên thuyền với Thầy, dù gió đã lặng, nhưng trong tâm hồn họ, cơn bão của sự bối rối vẫn chưa tan. Họ vẫn chưa thể kết nối các điểm lại với nhau để tạo thành một bức tranh hoàn chỉnh về Đức Giêsu. Điều này cho thấy rằng, việc chứng kiến phép lạ không tự động dẫn đến đức tin. Người ta có thể thấy những điều phi thường nhất mà lòng vẫn không tin, hoặc chỉ tin một cách hời hợt. Đức tin đòi hỏi một bước nhảy, một sự mở lòng, một sự suy gẫm và một sự biến đổi từ bên trong.
Vậy, đâu là nguyên nhân của tình trạng này? Thánh Mác-cô đã chỉ ra rất rõ ràng: "vì các ông đã không hiểu gì về phép lạ bánh hóa nhiều". Đây là một nhận xét thật đáng kinh ngạc. Mới chỉ vài giờ trước đó, chính các ông đã tham gia vào phép lạ hóa bánh. Chính tay các ông đã phân phát bánh cho dân chúng. Chính mắt các ông đã thấy năm chiếc bánh và hai con cá nuôi sống hơn năm ngàn người. Một sự kiện vĩ đại như thế, tại sao các ông lại "không hiểu gì"? "Không hiểu" ở đây không có nghĩa là các ông không biết sự kiện đó đã xảy ra. "Không hiểu" ở đây có nghĩa là các ông đã không nắm bắt được ý nghĩa thần học của nó. Các ông đã không tự hỏi: "Một người có thể làm ra bánh từ hư không, có quyền năng trên vật chất như vậy, thì người đó là ai?".
Nếu các ông thực sự suy gẫm và hiểu được rằng Đấng có thể làm ra bánh chính là Đấng có quyền năng của Tạo Hóa, là Chúa của sự sống, thì các ông đã không còn ngạc nhiên khi thấy Ngài đi trên mặt biển. Bởi vì đối với Đấng là Chúa của tạo thành, việc đi trên sóng nước cũng không có gì là không thể. Phép lạ hóa bánh là chìa khóa để hiểu phép lạ đi trên biển. Phép lạ trên đất liền là sự chuẩn bị cho phép lạ trên biển cả. Nhưng các môn đệ đã thất bại trong bài kiểm tra đầu tiên, vì thế họ không thể nào hiểu được bài học thứ hai. Lòng trí của họ đã không theo kịp những mặc khải ngày càng lớn lao mà Thầy dành cho họ.
Tình trạng này được Mác-cô mô tả bằng một từ rất mạnh: "lòng các ông còn chai đá" (peporomene). Từ này trong tiếng Hy Lạp không chỉ có nghĩa là cứng, mà còn có nghĩa là chai lì, tê liệt, mất cảm giác. Một trái tim chai đá là một trái tim đã mất đi sự nhạy bén thiêng liêng. Nó có thể thấy mà không nhận ra, có thể nghe mà không hiểu. Nó không còn khả năng kết nối các sự kiện lại với nhau để nhận ra sự hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa. Tại sao lòng các ông lại chai đá? Có lẽ vì họ vẫn còn bị chi phối quá nhiều bởi những suy nghĩ trần thế, bởi những mong đợi về một Đấng Mêsia chính trị. Họ thấy phép lạ nhưng chỉ nghĩ đến chuyện cơm no áo ấm. Họ thấy quyền năng nhưng chỉ nghĩ đến chuyện khôi phục vương quốc Israel. Những toan tính và tham vọng đó đã tạo thành một lớp vỏ chai dày, ngăn cản họ nhận ra căn tính thần linh và con đường cứu độ thực sự mà Đức Giêsu mang đến.
Trái tim chai đá là một căn bệnh nguy hiểm của đời sống đức tin. Và nó không chỉ là căn bệnh của các môn đệ năm xưa, mà còn là một nguy cơ thường trực của mỗi chúng ta. Chúng ta cũng có thể tham dự Thánh Lễ hàng tuần, nghe Lời Chúa, rước Mình Thánh Chúa, nhưng lòng vẫn chai đá. Chúng ta có thể nhận được biết bao ơn lành của Chúa trong cuộc sống – một căn bệnh được chữa lành, một khó khăn được vượt qua, một niềm vui trong gia đình – nhưng chúng ta lại coi đó là chuyện ngẫu nhiên, là do may mắn, chứ không nhận ra đó là bàn tay yêu thương của Chúa. Chúng ta đã không "hiểu gì về phép lạ bánh hóa nhiều" trong cuộc đời mình. Và vì thế, khi một cơn bão mới ập đến, chúng ta lại hoảng sợ, nghi ngờ, và "hết sức kinh ngạc" như thể Chúa chưa từng làm gì cho chúng ta. Chúng ta quên quá nhanh những ơn lành Chúa đã ban, và đó là dấu hiệu của một trái tim chai đá.
Làm thế nào để chữa lành căn bệnh này? Tin Mừng không trực tiếp đưa ra câu trả lời, nhưng toàn bộ hành trình của Đức Giêsu với các môn đệ chính là một quá trình chữa lành. Ngài đã không bỏ rơi họ dù lòng họ chai đá. Ngài vẫn kiên nhẫn dạy dỗ, tiếp tục thực hiện các dấu lạ, và cuối cùng, chính cuộc khổ nạn và phục sinh của Ngài mới là liều thuốc mạnh nhất có thể phá vỡ tảng đá trong tim họ. Biến cố Chúa Thánh Thần hiện xuống đã hoàn tất công trình chữa lành đó, ban cho họ một trái tim mới, một trái tim bằng thịt, có khả năng cảm nhận và hiểu được mầu nhiệm của Đức Kitô. Đối với chúng ta, con đường chữa lành cũng tương tự.
Trước hết, chúng ta cần khiêm tốn nhìn nhận tình trạng của mình. Chúng ta phải xin Chúa cho thấy những góc cạnh chai đá trong tâm hồn chúng ta. Thứ hai, chúng ta cần phải siêng năng suy gẫm Lời Chúa và các ơn lành Ngài ban. Hãy tập thói quen nhìn lại mỗi ngày sống để nhận ra những "phép lạ bánh hóa nhiều" nho nhỏ mà Chúa đã thực hiện cho chúng ta. Hãy ghi nhớ chúng, tạ ơn vì chúng. Chính lòng biết ơn là thứ nước làm mềm trái tim chai đá. Thứ ba, chúng ta cần phải cầu xin Chúa Thánh Thần. Chỉ có Ngài mới là Đấng có thể thực hiện cuộc phẫu thuật tâm linh, lấy đi trái tim chai đá và ban cho chúng ta trái tim của Chúa Giêsu. Cuối cùng, chúng ta cần phải có một đức tin đơn sơ, không quá dựa vào sự hiểu biết của lý trí. Ngay sau trình thuật này, thánh Mác-cô kể rằng khi Chúa Giêsu và các môn đệ cập bến Gennesarét, dân chúng đã nhận ra Ngài, họ chạy đi khắp vùng và đặt các bệnh nhân trên chõng để "xin Người cho họ chỉ sờ vào tua áo của Người thôi, và bất cứ ai sờ vào, đều được khỏi." Trái ngược với sự kinh ngạc bối rối của các môn đệ, dân chúng đã có một đức tin thật đơn sơ và cụ thể. Họ không cần hiểu hết mọi sự, họ chỉ cần "sờ vào" Chúa. Đôi khi, để chữa lành trái tim chai đá, chúng ta cần phải bớt suy nghĩ và bắt đầu "sờ chạm" vào Chúa qua lời cầu nguyện, qua các bí tích, qua việc phục vụ anh em.
Xin Chúa Giêsu, vị lương y thần linh, chạm đến trái tim chai đá của mỗi chúng ta. Xin Ngài giúp chúng ta biết suy gẫm và hiểu được những phép lạ tình thương mà Ngài vẫn không ngừng thực hiện trong cuộc đời chúng ta, để khi bão tố nổi lên, chúng ta không còn kinh ngạc trong sự sợ hãi, nhưng vững tin vào sự hiện diện quyền năng và yêu thương của Ngài. Amen.
Lm. Anmai, CSsR
=====================
