
Đức Chúa không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.
27 Khi ấy, có mấy người thuộc nhóm Xa-đốc đến gặp Đức Giê-su. Nhóm này chủ trương không có sự sống lại. 28 Mấy người ấy hỏi Đức Giê-su: “Thưa Thầy, ông Mô-sê có viết cho chúng ta điều luật này: Nếu anh hay em của người nào chết đi, đã có vợ mà không có con, thì người ấy phải lấy nàng, để sinh con nối dòng cho anh hay em mình. 29 Vậy nhà kia có bảy anh em trai. Người anh cả lấy vợ, nhưng chưa có con thì đã chết. 30 Người thứ hai, 31 rồi người thứ ba đã lấy người vợ goá ấy. Cứ như vậy, bảy anh em đều chết đi mà không để lại đứa con nào. 32 Cuối cùng, người đàn bà ấy cũng chết. 33 Vậy trong ngày sống lại, người đàn bà ấy sẽ là vợ ai, vì cả bảy đều đã lấy nàng làm vợ ?”
34 Đức Giê-su đáp: “Con cái đời này cưới vợ lấy chồng, 35 chứ những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết, thì không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng. 36 Quả thật, họ không thể chết nữa, vì được ngang hàng với các thiên thần. Họ là con cái Thiên Chúa, vì là con cái sự sống lại. 37 Còn về vấn đề kẻ chết trỗi dậy, thì chính ông Mô-sê cũng đã cho thấy trong đoạn văn nói về bụi gai, khi ông gọi Đức Chúa là Thiên Chúa của tổ phụ Áp-ra-ham, Thiên Chúa của tổ phụ I-xa-ác, và Thiên Chúa của tổ phụ Gia-cóp. 38 Mà Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, vì đối với Người, tất cả đều đang sống.”
39 Bấy giờ có mấy người thuộc nhóm kinh sư lên tiếng nói: “Thưa Thầy, Thầy nói hay lắm.” 40 Thế là họ không dám chất vấn Người điều gì nữa.
=======================
Suy niệm 1: THIÊN CHÚA CỦA KẺ SỐNG
(THỨ BẢY - THÁNH XÊXILIA 22/11)
Qua Lời Tổng Nguyện của Lễ Thánh Xêxilia, các nhà phụng vụ muốn chúng ta ý thức rằng: Nhân ngày lễ kính thánh Xêxilia, chúng ta đến dâng lời khẩn nguyện: Vì lời thánh nữ chuyển cầu, xin cho chúng ta được xứng đáng hát mừng danh thánh Chúa. Cuối thế kỷ V, câu chuyện về cuộc thương khó của các chứng nhân tử đạo Xêxilia, Valêrianô và Tibuốc đã ca ngợi đức đồng trinh của Kitô giáo, khiến cho tên tuổi của một thiếu nữ người Rôma tên là Xêxilia trở thành lừng lẫy. Chị đã chịu tử đạo và được mai táng ở nghĩa trang Calíttô. Một thánh đường đã được xây dựng để kính thánh nữ và một đoản văn trong câu chuyện trên đã khiến cho các nhạc sĩ chọn chị làm bổn mạng.
Xin được xứng đáng hát mừng danh thánh Chúa, sau khi được Chúa thánh hiến qua những cuộc chiến khốc liệt, như trong bài đọc một của giờ Kinh Sách, trích sách ngôn sứ Dacaria: Bấy giờ Đức Chúa sẽ là Vua cai trị toàn cõi đất. Đằng sau cuộc chiến giữa thiện và ác, cuộc chiến do Thiên Chúa dẫn đầu, ngôn sứ đã nhìn thấy hậu quả của ngày toàn thắng. Các địch thù thâm căn cố đế của Thành Thánh sẽ bị tan rã, trong khi đó, những người được cứu chuộc, kể cả người ngoại giáo, sẽ được thánh hiến cho Thiên Chúa… Ngày ấy, một dòng suối sẽ vọt ra cho nhà Đavít và dân cư Giêrusalem, để tẩy trừ tội lỗi. Một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Chúa. Tức thì máu cùng nước chảy ra.
Xin được xứng đáng hát mừng danh thánh Chúa, bằng một bài ca mới với con người mới, như trong bài đọc hai của giờ Kinh Sách, trích bài diễn giải Thánh Vịnh của thánh Autinh: Hãy hát cho hay bằng tiếng reo vui để mừng Chúa… Miệng con chứa chan lời tán tụng Chúa, suốt ngày con chẳng ngớt tôn vinh. Theo nhịp đàn mừng Chúa, miệng con sẽ reo hò. Mừng Ngài, con hân hoan nhảy múa, đàn hát kính danh Ngài, lạy Đấng Tối Cao.
Xin được xứng đáng hát mừng danh thánh Chúa, vì đã được Chúa thương giải cứu khỏi quân thù, như trong bài đọc một của Thánh Lễ, trích sách Macabê Quyển I: Chính vì những hành vi tàn bạo tôi đã làm ở Giêrusalem mà tôi phải chịu buồn phiền vô hạn. Trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 9: Lạy Chúa, con hoan hỷ vì được Ngài cứu thoát. Lạy Chúa, con hết lòng cảm tạ, kể ra đây muôn việc lạ Chúa làm. Mừng Ngài, con hân hoan nhảy múa, đàn hát kính danh Ngài, lạy Đấng Tối Cao.
Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Đấng Cứu Độ chúng ta là Đức Giêsu Kitô đã tiêu diệt thần chết, và đã dùng Tin Mừng mà làm sáng tỏ phúc trường sinh. Trong bài Tin Mừng, Đức Giêsu nói: Đức Chúa không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống. Đức Kitô đã tiêu diệt thần chết, Thiên Chúa là Thiên Chúa của kẻ sống. Ý của Chúa Cha là chúng ta tin vào Con của Người, để được sống đời đời. Chư dân sẽ sa vào hố chúng đào, chân mắc lưới chính chúng giăng sẵn, nhưng, người túng thiếu không mãi bị bỏ quên, kẻ nghèo khổ chẳng tuyệt vọng bao giờ. Chúng ta hoan hỷ vì được Chúa cứu thoát: Chính vì những hành vi tàn bạo, mà vua Antiôkhô đã làm ở Giêrusalem, đã khiến ông phải chịu buồn phiền vô hạn, trước khi ông chết. Hãy tạ ơn Chúa, gieo vạn tiếng đàn cầm; kính mừng Người, gảy muôn cung đàn sắt. Nào dâng Chúa một bài ca mới. Hãy hát mừng Người bằng tiếng reo vui. Thoạt đầu, ta vui mừng hân hoan, nhờ những lời của bài ca, sau đó, ta như đầy tràn một niềm vui lớn lao, đến nỗi, không thể diễn tả bằng lời, nên, ta không dùng lời nữa, mà, chuyển sang tiếng reo vui. Tâm hồn cứ hân hoan, mà không cần lời, để niềm vui vô biên không bị ngôn từ giới hạn, vì, Đấng không gì diễn tả được là Đấng ta không thể nói lên được bằng lời. Nhờ lời thánh nữ Xêxilia chuyển cầu, ước gì chúng ta được xứng đáng hát mừng danh thánh Chúa. Ước gì được như thế!
Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB
========================
Suy niệm 2: THIÊN CHÚA LÀ THIÊN CHÚA CỦA KẺ SỐNG
Trong cuộc sống trần thế, con người luôn đối diện với một câu hỏi căn bản: cái chết có phải là dấu chấm hết? Cái chết có làm sụp đổ mọi hy vọng, mọi mối liên hệ và cả niềm tin không? Câu hỏi ấy không chỉ là nỗi thao thức muôn thuở của nhân loại mà còn là cốt lõi của đức tin Kitô giáo. Bởi nếu không có sự sống lại, thì niềm tin của chúng ta là vô ích, như thánh Phaolô đã từng khẳng định.
Chính trong bối cảnh đó, Tin Mừng theo thánh Luca hôm nay thuật lại một cuộc đối thoại đầy sâu sắc giữa Chúa Giêsu và những người thuộc phái Sađốc – những người không tin có sự sống lại. Họ đến gần Chúa Giêsu không phải để học hỏi, mà để gài bẫy Người bằng một câu chuyện tưởng như hợp lý, nhưng thực chất lại là một cái bẫy logic nhằm phủ nhận niềm tin vào đời sau. Họ kể câu chuyện về bảy anh em cùng cưới một người vợ và đều chết mà không có con. Họ hỏi: “Vậy đến ngày sống lại, người đàn bà đó sẽ là vợ của ai?” Câu hỏi tưởng chừng hợp lý, nhưng lại dựa trên giả định sai lầm rằng đời sau sẽ giống như đời này, và từ đó phủ nhận sự sống lại bằng cách đẩy vấn đề vào thế rối rắm, vô lý. Chúa Giêsu không đi vào tranh luận logic, nhưng mạc khải một chân lý cao cả và đầy an ủi: đời sau không như đời này. Người nói rõ: “Con cái đời này thì cưới vợ lấy chồng, còn những ai được xét là xứng đáng với sự sống lại thì không cưới vợ lấy chồng. Họ không thể chết nữa, vì giống như thiên thần, họ là con cái Thiên Chúa, là con cái của sự sống lại.”
Lời Chúa khẳng định rằng sự sống lại là một thực tại siêu việt, không bị chi phối bởi luật lệ hay tương quan trần gian. Sự sống đời sau là sự sống trong Thiên Chúa, nơi mọi mối liên hệ đều được thánh hóa, nơi không còn hôn nhân theo nghĩa thể lý, nhưng mọi người đều sống trong tình yêu viên mãn của Thiên Chúa. Thiên Chúa là Cha của những người sống, không phải của kẻ chết. Chính vì thế, Chúa Giêsu đã dẫn lại lời Môsê trong sách Xuất Hành: “Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac và Thiên Chúa của Giacóp.”
Và Người khẳng định: “Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống, vì đối với Người, tất cả đều đang sống.” Đây là một trong những tuyên bố quan trọng nhất trong Tin Mừng, vì nó mặc khải bản chất thật của Thiên Chúa – Đấng ban sự sống và duy trì sự sống cho những ai thuộc về Người. Câu trả lời của Chúa Giêsu không chỉ làm câm miệng nhóm Sađốc, mà còn mở ra một chân trời mới cho các môn đệ và cho chúng ta hôm nay: sự sống không chấm dứt với cái chết, mà được biến đổi, được nâng lên, và được hoàn tất trong Thiên Chúa.
Trong ánh sáng của bài Tin Mừng, hình ảnh thánh nữ Cêcilia, trinh nữ và tử đạo, càng tỏa sáng hơn bao giờ hết. Ngài là một thiếu nữ Rôma sống vào thế kỷ thứ 3, thuộc gia đình quyền quý, nhưng đã chọn dâng mình cho Chúa trong đời sống khiết tịnh và âm thầm phục vụ tha nhân. Trong đêm tân hôn với Valerianô, Cêcilia đã thuyết phục chồng mình trở lại với Đức Kitô, và cùng với chồng, cả hai đã sống đời chứng tá giữa xã hội đen tối và bách hại. Khi bị bắt và bị tra tấn, Cêcilia vẫn kiên trung tuyên xưng đức tin, và khi bị hành hình, ngài vẫn hát ca ngợi Chúa, khiến những kẻ hành quyết cũng phải cảm phục. Cái chết của thánh nữ không phải là một thất bại, mà là sự hiến dâng trọn vẹn, là bằng chứng hùng hồn cho niềm tin vào sự sống lại. Cêcilia không sống vì thế gian, nhưng vì Thiên Chúa, và chính vì thế, ngài đã chiến thắng cái chết. Xác của ngài được tìm thấy gần như nguyên vẹn sau hơn 14 thế kỷ, như một dấu chỉ lạ thường của quyền năng Thiên Chúa và sự sống bất diệt của những ai trung thành với Người. Thánh Cêcilia còn được xem là bổn mạng của âm nhạc, bởi đời sống của ngài là một bản thánh ca không ngừng dâng lên Thiên Chúa, ngay cả trong đau khổ và cái chết. Cuộc đời của thánh nữ là minh chứng cụ thể cho lời Chúa Giêsu hôm nay: “Họ là con cái Thiên Chúa, là con cái của sự sống lại.” Thánh nữ không sợ chết, vì biết rằng đời sống trong Thiên Chúa thì không bao giờ bị hủy diệt. Niềm tin vào sự sống lại không chỉ là một tín điều, mà là động lực sống, là nguồn sức mạnh để người Kitô hữu dám sống và dám chết cho sự thật, công lý và tình yêu.
Với ánh sáng của Tin Mừng hôm nay, chúng ta được mời gọi nhìn lại chính đời sống mình, để tự hỏi: tôi đang sống cho điều gì? Tôi có tin vào sự sống đời sau không? Niềm tin ấy có đủ mạnh để giúp tôi sống khác đi trong cuộc sống thường nhật không? Đời sống đức tin hôm nay rất dễ bị cuốn vào lối sống hưởng thụ, thực dụng và duy vật.
Có những Kitô hữu vẫn tin Chúa, nhưng sống như thể không có đời sau. Họ đầu tư mọi thứ cho đời này: tiền bạc, địa vị, tiện nghi, an toàn, và không màng đến những giá trị thiêng liêng. Nhưng Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hướng đến sự sống vĩnh cửu, sống như những người đã được phục sinh, đã thuộc về Thiên Chúa, đã có gia sản đời đời. Điều đó không có nghĩa là ta phủ nhận đời này, nhưng là sống đời này trong ánh sáng của đời sau. Những bận tâm về công ăn việc làm, gia đình, học hành, sức khỏe… đều chính đáng, nhưng không thể là cùng đích. Nếu chỉ dừng lại ở đó, ta sẽ sống trong lo âu, thất vọng và cuối cùng bị nuốt chửng bởi cái chết. Nhưng nếu sống với lòng tin vào sự sống lại, ta sẽ có một tâm thế khác: bình an trong thử thách, hy vọng trong đau khổ, và can đảm khi phải chọn điều đúng. Ta sẽ không sợ mất mát, không ngại thiệt thòi, không ngã lòng khi bị hiểu lầm hay bách hại. Vì ta biết rằng đời này chỉ là khúc dạo đầu cho bản nhạc vĩnh cửu, là hành trình về quê hương đích thật, nơi Thiên Chúa đang chờ đợi.
Trong đời sống giáo dân, điều đó có nghĩa là trung thành với ơn gọi của mình: người cha, người mẹ, người lao động, người trẻ, người già… đều có thể sống niềm tin phục sinh bằng cách trung thành với bổn phận, sống yêu thương, tha thứ, chia sẻ, làm chứng cho Chúa giữa đời. Hãy sống như những người đang đi về quê hương trên trời, đừng để mình bị giam hãm trong những bon chen, ghen tị, đố kỵ, tham lam và ích kỷ. Hãy tập yêu thương như thể sẽ không còn cơ hội nữa, hãy sống bác ái như thể hôm nay là ngày cuối cùng, hãy cầu nguyện như thể ta sắp gặp Chúa, vì thực ra, điều đó hoàn toàn có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Và khi ấy, ta sẽ không sợ hãi, vì ta đã sống như người con của sự sống lại, người thuộc về Thiên Chúa của kẻ sống.
Lm. Anmai, CSsR
======================
Suy niệm 3: RẤT ĐỜI ĐỜI
“Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống”.
Vua Frederick - theo thuyết bất khả tri - trong một bữa tiệc, giễu cợt Chúa Giêsu. Tướng Von Zealand đứng dậy, “Tâu bệ hạ, thần không sợ chết, đã thắng 38 trận cho ngài. Thần sẽ sớm ra trước Đấng ngài đang xúc phạm - Đấng đời đời, rất đời đời! Vĩnh biệt!”. Cả phòng lặng thinh. Vua run giọng, “Xin tha lỗi cho trẫm!”. Yến tiệc kết thúc trong thinh lặng.
Kính thưa Anh Chị em,
Đấng đời đời, ‘rất đời đời’ của Von Zealand chính là “Thiên Chúa của kẻ sống” mà Tin Mừng hôm nay tiết lộ. Để hiểu được lời này, Karl Rahner nói, “Bạn hãy thả mình vào cung lòng của Thiên Chúa một cách vô điều kiện!”.
Tin Mừng tường thuật việc giới Sadducêô đưa ra một kịch bản trái khoáy để gài bẫy Chúa Giêsu: một phụ nữ - vợ của bảy anh em; khi sống lại, nàng là vợ ai? Chúa Giêsu nói, “Chúa là Thiên Chúa của kẻ sống!”. Hôn nhân chỉ dành cho đời này, không cho đời sau, sẽ không ai là chồng của nàng! Với giáo huấn này, một số người sẽ gặp khó khăn. Họ mong vẫn là vợ, là chồng của người phối ngẫu trên thiên đàng. Hãy yên tâm, các mối dây yêu thương đã hình thành trên dương thế sẽ vẫn còn, thậm chí, được củng cố hơn trên trời! Tuy nhiên, hôn nhân, theo nghĩa trần thế, sẽ chấm dứt; nó được thay thế bằng tình yêu trong sáng của một cuộc sống mới. “Điều chúng ta sống như tình yêu trong thời gian sẽ được biến hình, chứ không bị xoá bỏ, trong cõi đời đời!” - Von Balthasar.
Karl Rahner nói, “Niềm tin vào sự phục sinh mai ngày của Kitô hữu được đính chặt tận chóp trên cùng bản tính hằng sống của Thiên Chúa; Ngài hằng sống, đời đời, ‘rất đời đời’… nên tình yêu của Ngài cũng vĩnh hằng, miên viễn và vô cực như Ngài!”. Thánh Vịnh đáp ca bày tỏ niềm tri ân, “Lạy Chúa, con hoan hỷ vì được Ngài cứu thoát!”. Không có thiên đàng, không có cuộc sống vĩnh cửu, Kitô giáo sẽ ‘giảm giá’ và chỉ còn là đạo đức học hay một triết lý sống. Niềm tin vào sự phục sinh là cần thiết để mọi hành động yêu thương không phải là phù du và tự nó kết thúc, nhưng có thể trở thành hạt giống định hình hoa trái vĩnh cửu trong khu vườn nhà Cha. “Niềm vui gặp lại trên thiên đàng không phải là trở về điều đã qua, nhưng là khám phá điều mà tình yêu lẽ ra phải trở thành!” - C.S. Lewis.
Anh Chị em,
Vì “Chúa là Thiên Chúa của kẻ sống!” nên sống đức tin không chỉ là chờ đợi một “đời sau”, nhưng là ‘để sự sống đời đời’ thấm vào từng chọn lựa hôm nay. Tin vào Chúa của kẻ sống, chúng ta học ‘yêu không mà chiếm hữu’, ‘cho mà không sợ mất’, ‘tha mà không hối tiếc’. Mỗi hy sinh, mỗi trung tín nhỏ bé đều là một bước chạm vào cõi ‘rất đời đời’. Trong Chúa Kitô Phục Sinh, cái chết không còn là ngõ cụt, nhưng là ngưỡng cửa; không còn là chia lìa, nhưng là biến đổi; không còn là mất mát, nhưng là khởi đầu trong ánh sáng vĩnh cửu! Và chính trong niềm hy vọng này, đời sống mong manh của chúng ta được neo chặt vào sự sống vô tận của Thiên Chúa.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, con sợ chết, không thắng trận nào cho Chúa, lại sợ sớm trình diện Ngài. Cho con dám thả mình vào ‘vực Giêsu’, hầu con không sống như không có đời sau!”, Amen.
(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)
========================
Suy niệm 4: KINH NGHIỆM CẬN TỬ (Lc 20,27-40)
“Đức Chúa không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống.”
Kính thưa cộng đoàn,
Trong số các nhóm tôn giáo nước Do-thái thời Chúa Giê-su, những người thuộc nhóm Xa-đốc không tin vào sự sống đời sau. Họ đã thử Chúa Giê-su bằng cách đưa ra câu chuyện về một người đàn bà lấy lần lượt bảy anh em trong một gia đình. Nhóm Xa-đốc dựa vào Luật ông Mô-sê để đưa ra vấn đề. Một người lấy vợ, chết mà không có con. Do đó, những người anh hay em khác phải lấy người đàn bà kia để sinh con nối dòng cho anh hay em. Chớ trêu thay, bảy anh em trong một gia đình lần lượt lấy một người đàn bà. Họ đều chết và không để lại người con nào. Sau cùng, người đàn bà cũng chết. Nhóm Xa-đốc đặt vấn đề: Sau khi sống lại, người đàn bà là vợ của ai? Họ không tin vào sự sống lại, vậy mà lại đặt vấn đề cho những người tin vào sự sống đời sau. Câu chuyện đưa ra của nhóm Xa-đốc là giả tưởng, không có thật.
Chúa Giê-su biết rõ ý định của những người thuộc nhóm Xa-đốc. Người trưng dẫn sách Ngũ kinh như ông Maisen đã gọi: “Đức Chúa là Thiên Chúa của tổ phụ Áp-ra-ham, Thiên Chúa của tổ phụ I-sa-ác và Thiên Chúa của tổ phụ Gia-cóp. Ngài không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, vì đối với Ngài, tất cả đều đang sống”. Thiên Chúa là sự sống. Ngài ban và duy trì sự sống ngay cả sau khi chết. Chúa Giê-su còn mạc khải cho họ biết cuộc sống đời sau không còn dựng vợ gả chồng, vì lúc bấy giờ, mọi người được sống lại sẽ sống như các thiên thần. Họ được chiêm ngưỡng tôn nhan và ca tụng Thiên Chúa đến muôn đời.
Đối với những người đã lãnh nhận bí tích Rửa tội, chúng ta tuyên xưng vào sự sống đời đời. Chúng ta tin vào Lời Chúa Giê-su đã dạy và ta đang sống với niềm tin đó. Vì thế, mỗi người hãy sống theo Lời Chúa dạy để được sống hạnh phúc trong giây phút hiện tại và hạnh phúc muôn đời trong Nước Chúa.
Mấy năm gần đây, một số bác sĩ Đức và Mỹ đã rất chú ý đến hiện tượng mà họ gọi là “kinh nghiệm cận tử” (near death experience): nhiều người vì một tai nạn hay một lý do nào đó đã ngất đi trong một thời gian khá dài. Về mặt thể lý, coi như họ đã chết. Nhưng sau đó họ sống lại. Các bác sĩ đã phỏng vấn 1370 người ấy. Trong những điều họ thuật lại, có những điểm mà ai cũng nhất trí, như sau:
- Cuộc sống ở “cõi bên kia” hạnh phúc hơn cuộc sống ở đời này.
- Sau khi “chết đi sống lại”, không ai còn sợ chết nữa, không ai ham muốn kiếm tiền bạc danh vọng lạc thú gì nữa. Điều duy nhất mà họ quan tâm là sống yêu thương, quảng đại, phục vụ mọi người (Tóm bài của Willie Hoffsuemmer).
Lạy Chúa, xin cho con sống trong giây phút hiện tại như đang sống những giây phút cuối cùng của cuộc đời trong tình yêu Thiên Chúa. A-men
Jos. Nguyễn
=====================