
Đức Giê-su sinh làm con bà Ma-ri-a. Bà đã thành hôn với ông Giu-se, con cháu vua Đa-vít.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
18 Sau đây là gốc tích Đức Giê-su Ki-tô: bà Ma-ri-a, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giu-se. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. 19 Ông Giu-se, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. 20 Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: “Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. 21 Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ.” 22 Tất cả sự việc này xảy ra là để ứng nghiệm lời Chúa phán xưa qua miệng ngôn sứ: 23 Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là “Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta”. 24 Khi tỉnh giấc, ông Giu-se làm như sứ thần Chúa dạy, và đón vợ về nhà.
Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB
====================
EM-MA-NU-EN – THIÊN CHÚA Ở CÙNG CHÚNG TA
Tin Mừng theo thánh Mát-thêu hôm nay thuật lại cho chúng ta một trong những khoảnh khắc thánh thiêng và sâu thẳm nhất của mầu nhiệm Nhập Thể – biến cố khởi đầu của việc Thiên Chúa bước vào lịch sử nhân loại bằng một cách thức đầy khiêm tốn và lạ lùng: một trinh nữ mang thai bởi quyền năng Chúa Thánh Thần, một người công chính chọn con đường âm thầm vâng phục thánh ý, và một hài nhi được sinh ra không trong cung điện quyền quý mà trong chuồng súc vật nghèo hèn.
Từng chi tiết trong đoạn Tin Mừng này đều chất chứa một chiều sâu mạc khải lớn lao, và cùng nhau, chúng dệt nên tấm thảm huy hoàng của tình yêu cứu độ – tình yêu không đến bằng quyền lực mà bằng sự hạ mình, không qua lý lẽ con người mà bằng vâng phục trong đức tin. Trước hết, Tin Mừng nói đến hoàn cảnh của Ma-ri-a và Giu-se: “Mẹ Người là Ma-ri-a đính hôn với Giu-se, trước khi về chung sống với nhau, đã thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần.” Đây là sự kiện vượt quá sự hiểu biết và lẽ thường, thách đố niềm tin và sự bình an của cả hai con người được chọn làm cha mẹ trần thế của Đấng Cứu Thế. Giu-se, là người công chính – tức là người sống theo lề luật và trung thành với Thiên Chúa – khi biết Ma-ri-a mang thai, chắc chắn đã rơi vào cơn khủng hoảng, bởi theo luật Do Thái, hôn thê mang thai ngoài hôn nhân là lý do để bị tố cáo và xử phạt. Nhưng chính trong giây phút ấy, Tin Mừng bày tỏ cho chúng ta thấy vẻ đẹp của một tâm hồn công chính thật sự: không chỉ biết tuân giữ lề luật, nhưng còn thấm nhuần lòng thương xót và sự khôn ngoan. Giu-se không hề nổi giận, cũng không kết án, ông định tâm “lìa bỏ cách kín đáo” – nghĩa là chọn con đường âm thầm, tránh gây tổn thương hay hổ thẹn cho Ma-ri-a. Đó là một quyết định khó khăn và đau đớn, nhưng đầy yêu thương.
Và chính khi Giu-se đối diện với cuộc giằng co nội tâm ấy, thì ánh sáng mạc khải của Thiên Chúa đến với ông trong giấc mơ: “Hỡi Giu-se, con vua Đa-vít, đừng ngại nhận Ma-ri-a về nhà làm bạn mình, vì Maria mang thai bởi phép Chúa Thánh Thần.” Lời của thiên thần không chỉ là lời trấn an, nhưng là một lời mời gọi Giu-se bước vào kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa, chấp nhận một vai trò đặc biệt – làm cha nuôi của Đấng Cứu Thế – không bằng quyền lực hay danh phận, mà bằng sự vâng phục, trung tín và âm thầm.
Đáng chú ý là Giu-se không nói một lời nào trong toàn bộ trình thuật Tin Mừng hôm nay. Ông không chất vấn thiên thần, không đặt điều kiện, không đòi dấu chỉ. Nhưng khi tỉnh dậy, ông “đã thực hiện như lời thiên thần Chúa truyền”. Sự thinh lặng của Giu-se vang vọng tiếng nói lớn lao của đức tin – một đức tin không cần phải hiểu hết mới tin, nhưng dám tin để rồi sẽ hiểu. Ông không cần ánh sáng ban ngày, chỉ cần một giấc mộng là đủ để nhận ra tiếng Chúa.
Và đó là sự công chính thật – biết phân định, biết tin tưởng, và dám hành động theo thánh ý Chúa, ngay cả khi điều ấy vượt khỏi lẽ thường và danh dự bản thân. Và trong chính sự vâng phục ấy, lời tiên tri xưa được ứng nghiệm: “Này đây một trinh nữ sẽ mang thai và hạ sinh một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta”. Cái tên “Em-ma-nu-en” là trọng tâm thần học của mầu nhiệm Nhập Thể. Chúa không đứng xa để xét xử, không ngự trên cao để ban phát, nhưng “ở cùng chúng ta” – chia sẻ thân phận làm người, đi vào lịch sử, ở trong nỗi đau, niềm vui, sự mong manh và hy vọng của nhân loại. Và cái tên “Giê-su” – nghĩa là “Thiên Chúa cứu độ” – được Giu-se đặt cho Hài Nhi, cũng là dấu chỉ cho biết ơn cứu độ đến không nhờ công trạng hay khả năng con người, nhưng hoàn toàn do sáng kiến yêu thương và quyền năng của Thiên Chúa.
Chiêm ngắm mầu nhiệm Giáng Sinh từ góc nhìn của thánh Mát-thêu, ta không thấy cảnh mục đồng hay thiên thần ca hát, nhưng thấy một sự yên tĩnh sâu thẳm: sự yên tĩnh của thinh lặng nội tâm, của đức tin vâng phục, của kế hoạch Thiên Chúa diễn ra trong lòng thế giới một cách âm thầm mà đầy quyền năng. Chính trong sự yên tĩnh ấy, một biến cố đã thay đổi toàn thể lịch sử nhân loại – Thiên Chúa đã ở cùng chúng ta.
Từ Tin Mừng hôm nay, chúng ta được mời gọi nhìn lại chính cuộc sống của mình. Có khi nào chúng ta cũng giống như Giu-se – đối diện với những hoàn cảnh không hiểu nổi, với những nghịch lý của cuộc đời, với những điều xảy đến mà ta không hề mong đợi – và trong lòng ta nổi lên những dằn vặt, phân vân, khổ đau? Khi ấy, ta có dám lắng nghe tiếng Chúa – không phải bằng những thị kiến lớn lao, nhưng trong thinh lặng của tâm hồn, trong lời cầu nguyện, trong lời Kinh Thánh và sự soi sáng của Thánh Thần? Ta có dám tin rằng có thể có một kế hoạch lớn hơn đang diễn ra, dù ta chưa hiểu hết? Ta có dám vâng theo thánh ý, ngay cả khi điều đó làm ta mất đi sự an toàn, danh dự hay sự thoải mái? Và hơn hết, ta có tin rằng: trong mọi hoàn cảnh, Chúa vẫn đang “ở cùng chúng ta” – không bỏ rơi ta, không quên lãng ta, mà đang dẫn ta qua từng bước, dù là trong đêm tối?
Trong đời sống đức tin, có những lúc Thiên Chúa không đến với ánh sáng huy hoàng hay những lời rõ ràng, mà đến trong giấc mộng – trong sự âm thầm của linh hồn, trong những dấu chỉ nhỏ bé, trong những lời thì thầm của lương tâm. Những ai có tâm hồn thinh lặng và cởi mở như Giu-se mới có thể nhận ra và đáp lại. Đức tin không chỉ là chấp nhận những điều mình hiểu, mà là tín thác vào điều Chúa nói, dù chưa thể nắm bắt bằng lý trí. Sống như Giu-se là biết nhường chỗ cho kế hoạch của Thiên Chúa, biết yêu thương không làm tổn thương, biết âm thầm làm điều đúng mà không cần phô trương. Sống như Ma-ri-a là dám đón nhận sự sống từ Thiên Chúa, dù điều đó phá vỡ mọi dự tính cá nhân. Và sống như Đức Giê-su là dám trở nên nhỏ bé, khiêm hạ và gần gũi với nhân loại, để yêu thương đến cùng.
Lễ Giáng Sinh không chỉ là kỷ niệm một sự kiện trong quá khứ, nhưng là mời gọi ta sống hiện tại với lòng xác tín: Thiên Chúa vẫn đang ở cùng chúng ta. Trong gia đình có xung đột, Chúa đang ở đó để hàn gắn. Trong bệnh tật, lo âu, thất nghiệp, Chúa đang ở đó để đồng hành. Trong những lựa chọn khó khăn, Chúa đang ở đó để soi sáng. Trong cô đơn và nước mắt, Chúa đang ở đó để ủi an. Người đến không phải chỉ để thay đổi hoàn cảnh bên ngoài, mà là để biến đổi con tim ta từ bên trong – để ta biết yêu như Người yêu, tha thứ như Người tha thứ, hy vọng như Người hy vọng. Như Giu-se, hãy đứng lên và hành động sau khi lắng nghe tiếng Chúa. Như Ma-ri-a, hãy cưu mang Lời Chúa trong tâm hồn và để Lời ấy thành xác phàm nơi chính cuộc sống mình. Như Giê-su, hãy trở nên quà tặng tình yêu cho người khác.
Lạy Chúa Giê-su Hài Đồng, Chúa đã đến giữa chúng con trong sự đơn sơ và nghèo khó, xin cho chúng con biết nhận ra sự hiện diện của Chúa trong mọi hoàn cảnh đời sống. Xin cho chúng con một trái tim giống thánh Giu-se – biết thinh lặng, lắng nghe, và hành động theo ý Chúa. Xin cho chúng con biết mở lòng như Đức Maria – dám nói lời “xin vâng” trong mọi hoàn cảnh. Xin cho chúng con biết sống Mùa Giáng Sinh này không chỉ bằng ánh đèn hay bài ca, mà bằng sự biến đổi nội tâm, bằng những hành động yêu thương, phục vụ và hy sinh cho người khác. Xin cho chúng con tin tưởng mãi rằng: Chúa là Em-ma-nu-en – là Thiên Chúa ở cùng chúng con – hôm qua, hôm nay và mãi mãi. Amen.
Lm. Anmai, CSsR
======================
SỰ VÂNG PHỤC CỦA THÁNH GIUSE (Mt 1,18-24)
“Khi tỉnh giấc, ông Giu-se làm như sứ thần Chúa dạy, và đón vợ về nhà.”
Kính thưa cộng đoàn,
Một câu chuyện thật huyền nhiệm đã xảy ra trong chương trình cứu độ. Câu chuyện nhiều người nghĩ thật dại dột. Nhưng trong chương trình của Thiên Chúa, câu chuyện này là mẫu gương về sự vâng phục. Vào thời đã định, Thiên Chúa sai sứ thần đến gặp ông Giu-se. Tại sao sứ thần đến báo mộng cho ông Giu-se? Bởi Thiên Chúa đã chọn ông làm cha nuôi Ngôi Hai Thiên Chúa. Mặc dù ông Giu-se đã thành hôn với bà Ma-ri-a, nhưng hai ông bà chưa về chung sống thì bà Ma-ri-a đã mang thai. Ông Giu-se thấy sự thay đổi nơi người vợ. Ông cũng thắc mắc không biết thai nhi đó là của ai. Ông cũng biết theo luật Do-thái là phải tố giác người vợ. Nếu bị tố giác, chắc chắn bà Ma-ri-a và thai nhi sẽ bị ném đá chết. Nhưng ông Giu-se lại không làm như vậy. Ông định tâm lìa bỏ bà cách kín đáo. Bởi ông âm thầm ra đi, thì không ai có thể kết án người vợ chưa chung sống và bà không bị ném đá chết. Ngoài ra, ông không muốn làm mất thanh danh người vợ. Ông quả thực là một người công chính. Ông vừa không vi phạm Luật Mô-sê, vừa không vi phạm luật người Do-thái. Tuy nhiên suy tính của ông không như ý định của Thiên Chúa. Thiên Chúa đã mạc khải cho ông biết xuất thân của thai nhi “Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần.”. Đồng thời, ông Giu-se còn nhận được mạc khải về vai trò của thai nhi: “Bà sẽ sinh con và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ.” Hơn nữa, ông được mời gọi nhớ lại những gì đã chép trong sách các ngôn sứ. Ông là người Do-thái. Ông được nghe nhiều sách Cựu ước. Giờ đây, ông được gợi nhớ lại và được mời gọi cộng tác vào chương trình của Thiên Chúa. Cuối cùng, ông hoàn toàn vâng phục theo thánh ý Thiên Chúa: “Khi tỉnh giấc, ông Giu-se làm như sứ thần Chúa dạy, và đón vợ về nhà.”.
Sự vâng phục của Thánh Giu-se là mẫu gương cho chúng ta hôm nay. Thánh Giu-se là mẫu gương về sự vâng phục và đời sống đức tin. Ngài đã hoàn toàn vâng theo thánh ý Thiên Chúa. Thánh Giáo hoàng Gio-an Phao-lô II đã nói: “Thánh Giu-se đã vâng phục Thiên Chúa cách trọn vẹn, không cần những lời giải thích dài dòng, nhưng bằng việc phó thác hoàn toàn cuộc đời mình.” (Redemptoris Custos). Thánh Bernard thành Clairvaux ca tụng đức tin của thánh Giu-se như sau: “Thánh Giu-se tin vào điều dường như không thể, và nhờ đức tin ấy, ngài đã trở nên người bảo vệ Đấng Cứu Thế.” Mỗi người chúng ta được mời gọi theo gương Thánh Giu-se sống tin cậy và hoàn toàn phó thác cuộc đời trong tay Thiên Chúa. Trong cuộc sống, dù có gặp thử thách lớn lao, chúng ta hãy hoàn toàn vâng theo thánh ý Chúa. Chúa sẽ luôn ban ơn nâng đỡ.
Lạy Chúa, xin cho con biết sống vâng phục như thánh Giu-se năm xưa. A-men.
Jos. Nguyễn
==================
NGAY LÀNH
“Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông”.
“Khủng hoảng bạn gặp - có thể gọi là ‘tai ương’ - thường mang lại những cơ hội lớn hơn. Chúng thúc đẩy trưởng thành tâm linh, chứng tỏ sự chính trực, và chuẩn bị bạn cho một sứ vụ đáng kinh ngạc… với điều kiện, bạn phải ngay lành!” - Kin Hubbard.
Kính thưa Anh Chị em,
Nhận định trên ứng nghiệm tuyệt đẹp nơi thánh Giuse. Tin Mừng hôm nay hé lộ một tiểu tiết ít ai chú ý, nhưng rất đáng suy nghĩ: thiên thần chỉ hiện ra với Giuse ‘sau khi’ ông đã quyết định làm một điều tốt. Dường như Thiên Chúa chỉ mặc khải sâu hơn kế hoạch của Ngài cho ai - trước khủng hoảng - biết phản ứng cách ‘ngay lành!’.
Đối diện với việc Maria có thai - một bất thường nơi người phụ nữ vốn được biết là không thể chê trách - Giuse không vội phản ứng. Ông nghĩ suy, cầu nguyện và phân định. Về pháp lý, Giuse có quyền công khai “chuyện tình buồn” của mình; nhưng ông đã không làm vậy. Trái lại, Giuse chọn rút lui lặng lẽ, như để giao phó cho Chúa phần còn lại. Đặc biệt, Giuse dường như ‘ưu tiên’ cho Maria trong mối ngờ vực này. Nghĩ điều tốt cho người khác - nhất là khi có lý do để nghi ngờ - luôn là một nhân đức hiếm hoi; nó được gọi là ‘ngay lành’. “Tình yêu chọn tin điều tốt nhất ở người khác!” - Marvin J. Ashton.
Bao xung đột bùng nổ, bao tình bạn vỡ tan, chỉ vì người ta dễ kết luận, “Không phải do tôi!”. Giuse không đi con đường ấy. Và chính trong sự ‘ngay lành’ đó, Thiên Chúa lên tiếng, “Này ông Giuse, con cháu Đavít, đừng ngại đón Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần; bà sẽ sinh con trai, và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu!”. “Ở giữa khó khăn là cơ hội!” - Albert Einstein. Từ một khủng hoảng tưởng chừng bế tắc, Thiên Chúa mở ra cho Giuse một mầu nhiệm vĩ đại - Đấng Cứu Thế sẽ được trao vào tay ông. Người Con ấy là “Chồi non chính trực” - bài đọc một; và “Triều đại Người đua nở hoa công lý và thái bình thịnh trị đến muôn đời” - Thánh Vịnh đáp ca.
Giuse đã tin, vâng theo - dù tất cả chỉ đến qua một giấc điệp. Đó không phải là một giấc điệp mơ hồ; nhưng là giấc điệp được đỡ nâng bởi một đức tin quảng đại và một con tim ‘ngay lành’ đủ chín. Nhờ thế, Giuse ôm lấy Hài Nhi và trung thành với sứ vụ đến cùng. “Nếu phán xét người khác, bạn không còn thời gian để yêu thương họ!” - Mẹ Têrêxa.
Anh Chị em,
“Bạn phải ngay lành!”. Với chọn lựa ấy, tai ương của Giuse đã trở thành cơ hội lớn hơn. Mùa Vọng, mùa con tim được đào tạo và chữa lành, hầu chúng ta biết sống chính trực, tín thác trọn vẹn vào Chúa; nhờ đó, có thể đi qua khủng hoảng mà không đánh mất điều lành. “Mỗi nghịch cảnh, mỗi thất bại, mỗi nỗi đau đều mang trong nó mầm mống một lợi ích ngang bằng hoặc lớn hơn!” - Napoleon Hill. Và kìa, như với Giuse, Thiên Chúa cũng đang âm thầm chuẩn bị cho bạn và tôi một sứ vụ đáng kinh ngạc!
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, đừng để con vuột mất những ‘cơ hội lớn hơn’, cho con luôn ngay lành trong thử thách, để ôm lấy sứ vụ không tưởng Chúa đang âm thầm chuẩn bị!”, Amen.
Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)
=================
