
Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB
===================
NGƯỜI MỤC TỬ SẴN SÀNG TRAO BAN TÌNH YÊU ĐỂ ĐEM LẠI SỰ SỐNG (Ga 10,11-18)
“Mục Tử nhân lành hi sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.”
Kính thưa cộng đoàn,
Thánh vịnh 23 đã khẳng định Thiên Chúa là Mục Tử lý tưởng: “CHÚA là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì.” (Tv 23,1). Lời này thể hiện sự tin tưởng tuyệt đối vào sự quan phòng, bảo vệ của Thiên Chúa đối với dân Ít-ra-en. Hình ảnh người mục tử rất quan thuộc với dân Do-thái. Họ là những người chăn chiên, cừu hay dê. Họ có trách nhiệm dẫn đưa đoàn vật đến nguồn nước sạch và đồng cỏ tươi. Họ còn phải bảo vệ đoàn vật khỏi hiểm nguy và đưa về chuồng an toàn.
Hình ảnh này là nền tảng để giới thiệu về Chúa Giê-su là Mục Tử nhân lành. Trong bài Tin Mừng, Chúa Giê-su nói với người Do-thái rằng: “Tôi là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hi sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.” Người Mục Tử không chỉ là người dẫn đường, mà là người dám chết vì đoàn chiên. Đây chính là đỉnh cao của tình yêu, tình yêu hiến mạng sống cho người yêu. Người Mục Tử khác người làm thuê. Người làm thuê chỉ vì tiền bạc, nên làm cho hết giờ và luôn chỉ quan tâm đến lợi ích bản thân. Vì thế, người làm thuê sẵn sàng bỏ chiên khi sói đến. Ngôn sứ E-dê-ki-en đã tiên báo về người mục tử bất xứng. Họ thay vì chăm sóc thì lại áp bức. Họ chỉ biết hưởng thụ, mà không lo chăm sóc, tìm kiếm và bảo vệ… (x.Ed 34). Còn Chúa Giê-su đến chăm sóc, tìm kiếm, chữa lành từng con. Người hân hoan vui mừng vác chúng trên vai đem về qui tụ thành một đoàn chiên duy nhất. Người Mục Tử sẵn sàng chết thay đoàn chiên để chiên được sống và sống hạnh phúc.
Trong tâm tình Mùa Phục Sinh, Chúa Giê-su sống lại mạc khải cho con người biết rằng cái chết của Người không phải là thất bại, mà là hành động yêu thương tự nguyện. Sự sống lại là bằng chứng tình yêu hiến mình mạnh hơn sự chết. Như vậy, Chúa Giê-su không chỉ là mục tử đã chết, mà là Mục Tử đang sống, vẫn dẫn dắt, bảo vệ và gọi tên từng người chúng ta.
Chúa Giê-su là Mục Tử nhân lành. Người vẫn hằng đồng hành, bảo vệ và dẫn đưa chúng ta đến sự sống đời đời. Mỗi người cần dừng lại lắng nghe tiếng gọi đầy yêu thương của vị Mục Tử nhân lành và mau mắn đáp lại. Dù ta có ở phương trời nào, có bị bầm dập ra sao, Mục Tử nhân lành vẫn tìm, đưa về và chữa lành cho ta.
Có một câu chuyện về một người lính trong chiến tranh. Khi đơn vị bị tấn công, một quả lựu đạn rơi vào giữa nhóm. Không kịp suy nghĩ, anh đã lao mình che quả lựu đạn, cứu sống đồng đội nhưng chính mình hy sinh.
Sau này, một người bạn sống sót nói: “Anh ấy không chỉ cứu mạng chúng tôi, anh ấy cho chúng tôi thấy tình yêu là gì.”
Lạy Chúa, xin cho con biết sống tin tưởng, lắng nghe, hy vọng vào tình yêu của Chúa. Xin cho con biết sống yêu thương với hết mọi người. A-men.
Jos. Nguyễn
==================
TIẾNG QUEN - LÒNG LẠ
“Chúng không nhận biết tiếng người lạ!”.
Một người Mỹ du lịch Syria, thấy ba người chăn chiên cùng dẫn đàn vật trên một con đường. Người thứ nhất gọi, “Men ah! Men ah!”. Chiên tách đàn, theo anh. Người thứ hai cũng gọi; chiên theo. Người Mỹ xin mũ, cầm gậy, rồi gọi, “Men ah! Men ah!”. Không con nào ngẩng lên. “Chiên không nghe ai khác sao?” - “Có chứ! Vài con bệnh, nó sẽ đi theo bất cứ ai!”.
Kính thưa Anh Chị em,
“Vài con bệnh, nó sẽ đi theo bất cứ ai!”. Lời Chúa hôm nay không hỏi chúng ta nghe gì, nhưng hỏi: Con khoẻ không? Vì có những lúc, chính nơi thân thuộc nhất, lại xảy ra ‘tiếng quen - lòng lạ’.
Không phải mọi âm thanh đều là tiếng gọi; và không phải cứ nghe là nhận ra. Với Gioan, “nghe” không dừng ở giác quan, nhưng là tương quan: chiên nhận ra tiếng chủ vì nó thuộc về. Chủ chiên quen nói với chiên, nó ngẩng lên và đi theo; với người lạ thì không. Vì thế, vấn đề không phải có bao nhiêu tiếng vang chung quanh, nhưng ở chỗ bạn và tôi quen với tiếng nào; bởi chỉ nơi sự thân quen được nuôi dưỡng, việc nhận ra mới trở thành gần như một phản xạ.
Gioan không dừng lại ở việc nghe như một phản xạ tự nhiên. Động từ ông dùng vượt quá akouo - nghe như âm thanh chạm vào tai; nó hướng tới ginosko - nhận biết phát sinh từ gắn bó. Vì thế, nhận ra không là kết quả của phân tích, nhưng là hoa trái của một đời sống đã quen với tiếng ấy. Chiên không so sánh các giọng; nó chỉ quay về với tiếng mình đã sống cùng. Gioan không xây thần học trên “nghe”, nhưng trên sự tương thuộc. Một khi sự thuộc về này phai đi, tiếng vẫn còn mà lòng đã vắng; ‘tiếng quen - lòng lạ’. “Không gì làm lòng người trở nên chai cứng cho bằng sự quen thuộc với những điều thánh” - J.C. Ryle.
Người ta sẽ đi theo tiếng mình quen. Chỉ cần đủ Lời Chúa để thấm giọng của Ngài; đủ lặng để lòng không bị lấn át. Từ đó, một thói quen cầu nguyện hình thành, đủ bền để nhận ra, đủ tỉnh để bước theo giữa bao bận rộn. “Ngài ở trong con, mà con lại ở ngoài Ngài!” - Augustinô. Phêrô từng chất vấn, “Những gì ô uế… không bao giờ lọt vào miệng con”; nhưng trong cầu nguyện và phân định, ông nhận ra tiếng Chúa. Cộng đoàn không còn tranh luận, nhưng lắng đọng; và khi lắng xuống, họ nhận ra Chúa cũng mở lối sự sống cho dân ngoại - bài đọc một.
Anh Chị em,
Đức Giêsu không chỉ nghe, nhưng luôn ở trong tiếng của Cha; những gì Ngài nói và làm đều phát xuất từ Cha. Ngài không bị lôi kéo vì không thuộc về những tiếng khác; và chính trong sự hiệp thông ấy, Ngài trở thành tiếng mà chiên nhận ra. Còn chúng ta, không phải lúc nào cũng nhạy để nghe; nhiều khi vẫn đọc, vẫn cầu nguyện, nhưng lòng đã ở nơi khác: những tiếng lạ vốn luôn ngọt ngào. Tiếng vẫn quen, mà lòng không còn chạm. Không phải Chúa ngừng nói, nhưng chúng ta thôi ở lại; và khi không còn ở lại, sẽ là ‘tiếng quen - lòng lạ’. “Chúa nói với chúng ta bằng nhiều cách, nhưng chúng ta cần học biết lắng nghe!” - Phanxicô.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, dường như con không khoẻ, có lẽ đã ‘bệnh’. Xin chữa lành con!”, Amen.
Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)
===============