
Trên trời ai nấy sẽ vui mừng, vì một người tội lỗi ăn năn sám hối.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.
1 Khi ấy, các người thu thuế và các người tội lỗi đều lui tới với Đức Giê-su để nghe Người giảng. 2 Thấy vậy, những người Pha-ri-sêu và các kinh sư bèn xầm xì với nhau: “Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng.” 3 Đức Giê-su mới kể cho họ dụ ngôn này:
4 “Người nào trong các ông có một trăm con chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia ngoài đồng hoang, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất ? 5 Tìm được rồi, người ấy mừng rỡ vác lên vai. 6 Về đến nhà, người ấy mời bạn bè, hàng xóm lại, và nói: ‘Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó.’ 7 Vậy, tôi nói cho các ông hay: trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn.
8 “Hoặc người phụ nữ nào có mười đồng quan, mà chẳng may đánh mất một đồng, lại không thắp đèn, rồi quét nhà, moi móc tìm cho kỳ được ? 9 Tìm được rồi, bà ấy mời bạn bè, hàng xóm lại, và nói: ‘Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được đồng quan tôi đã đánh mất.’ 10 Cũng thế, tôi nói cho các ông hay: giữa triều thần Thiên Chúa, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối.”
=====================
Suy niệm 1: VUI MỪNG VÌ MỘT NGƯỜI SÁM HỐI
Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB
====================
Suy niệm 2: TÌNH THƯƠNG CỦA THIÊN CHÚA VỚI KẺ TỘI LỖI: HỒNG ÂN CỨU ĐỘ DÀNH CHO MỌI NGƯỜI
Trình thuật Tin Mừng hôm nay mở ra trong một khung cảnh rất đặc biệt: những người thu thuế và tội lỗi đang lui tới với Đức Giê-su để lắng nghe Người giảng. Còn những người Pha-ri-sêu và các kinh sư thì xầm xì phê phán: “Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng”. Chính phản ứng ấy của các nhà lãnh đạo tôn giáo đương thời đã là khởi điểm cho hai dụ ngôn tuyệt đẹp về lòng xót thương: con chiên bị mất và đồng quan bị đánh mất. Đức Giê-su không trả lời họ bằng lý luận, nhưng bằng hình ảnh, bằng câu chuyện sống động, khiến ai nghe cũng có thể soi mình vào đó. Chính trong hai dụ ngôn này, Người mạc khải cho chúng ta thấy khuôn mặt thật của Thiên Chúa – một vị Thiên Chúa không ở xa người tội lỗi, nhưng chủ động đi tìm, không lên án nhưng tha thứ, không khước từ nhưng yêu thương, không khoanh tay đứng nhìn nhưng sẵn sàng đi vào chốn bụi gai để tìm kiếm điều đã mất.
Dụ ngôn thứ nhất kể về người mục tử có một trăm con chiên, nhưng khi mất một con, ông để chín mươi chín con ngoài đồng hoang mà lên đường đi tìm con bị lạc. Đối với người chăn chiên thời bấy giờ, đây là một hành vi hết sức lạ lùng, thậm chí liều lĩnh: chín mươi chín con kia có thể bị thú dữ tấn công, hoặc đi lạc tiếp, nhưng người mục tử vẫn lên đường đi tìm con chiên duy nhất kia. Tại sao? Vì đối với ông, mỗi con chiên đều là duy nhất, đều đáng giá, đều không thể thay thế. Ông không nghĩ theo kiểu số đông, không tính toán thiệt hơn. Ông hành động theo trái tim – trái tim của người yêu thương, lo lắng và gắn bó mật thiết với từng con vật dưới sự chăm sóc của mình. Khi tìm thấy chiên, ông không trách mắng, không đánh đập, nhưng mừng rỡ vác nó lên vai. Cử chỉ ấy diễn tả niềm vui lớn lao, sự tha thứ trọn vẹn, và việc đưa con chiên trở về đoàn một cách đầy yêu thương. Đó chính là hình ảnh sống động của chính Đức Giê-su – Đấng Mục Tử nhân lành, Đấng không ngại bước vào vùng tăm tối của cuộc đời ta để tìm ta, vác ta lên vai bằng thập giá của Người, và đưa ta trở về nhà Cha.
Dụ ngôn thứ hai cũng cùng một chủ đề, nhưng lần này là hình ảnh người phụ nữ đánh mất một đồng quan trong mười đồng bà có. Với một người nghèo, một đồng quan là rất quý giá. Vì thế, bà thắp đèn, quét nhà, moi móc, tìm cho kỳ được. Khi tìm thấy rồi, bà mời bạn bè hàng xóm đến để cùng chung vui. Dụ ngôn này cho thấy Thiên Chúa cũng như người phụ nữ ấy – Ngài không coi nhẹ bất cứ ai, dù chỉ là “một đồng quan” trong toàn bộ nhân loại. Ngài không nghỉ ngơi, không ngồi yên, cho đến khi tìm lại được đứa con lưu lạc. Và khi đã tìm thấy, niềm vui ấy không giữ riêng cho mình, nhưng lan tỏa: “Xin chung vui với tôi!” – cũng như niềm vui nơi Thiên Chúa không chỉ là của riêng Người, nhưng là niềm vui của cả triều thần Thiên quốc. Dụ ngôn này nhấn mạnh đến việc Thiên Chúa không bao giờ từ bỏ ai, và giá trị của mỗi linh hồn là vô cùng lớn lao.
Hai dụ ngôn tưởng chừng đơn giản, nhưng chứa đựng cả một kho tàng thần học: nơi đó, Thiên Chúa được mạc khải không như một vị Thẩm phán nghiêm khắc, nhưng là Cha giàu lòng xót thương; không như Đấng ngồi chờ tội nhân đến gõ cửa, mà là Đấng lên đường, chủ động tìm kiếm. Ngài không nhìn tội lỗi như cái cớ để loại trừ, nhưng như một vết thương cần được chữa lành. Điều quan trọng nhất đối với Thiên Chúa không phải là con người có hoàn hảo hay không, mà là họ có để Ngài tìm thấy họ hay không, có để Ngài yêu thương, tha thứ và nâng họ dậy hay không. Dụ ngôn còn nhấn mạnh rằng: mỗi người đều có giá trị duy nhất trước mặt Thiên Chúa, dù người ấy có bị thế gian coi thường, bị loại trừ, bị đánh mất, thì với Thiên Chúa, họ vẫn là con cái được yêu thương, vẫn đáng để tìm kiếm đến cùng. Không ai là quá xa để Ngài không với tới được, không ai là quá tội lỗi để không thể được cứu độ, nếu họ biết sám hối và quay về.
Hơn thế nữa, trong mỗi dụ ngôn, Đức Giê-su đều kết thúc bằng một lời khẳng định mạnh mẽ: “Trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối.” Câu nói này không nhằm hạ thấp người công chính, nhưng nhấn mạnh đến niềm vui của lòng thương xót – một niềm vui bừng sáng khi một người quay về, một tâm hồn được cứu. Đó là niềm vui cứu độ, niềm vui của Thiên Chúa và của cả thiên đàng. Sự trở về của một người tội lỗi là chiến thắng của tình yêu trên tội lỗi, là chiến thắng của ánh sáng trên bóng tối. Nó chứng tỏ rằng Thiên Chúa không dừng lại ở công lý, mà vượt xa hơn – là lòng thương xót. Ngài vui mừng không vì thành tích hay công trạng của ta, nhưng vì ta để Ngài yêu.
Lời Chúa hôm nay không chỉ nhằm khích lệ những người đang lạc bước, nhưng cũng là lời chất vấn cho từng người trong chúng ta. Chúng ta có đang sống trong tâm tình của những người Pha-ri-sêu và kinh sư – những người thích phân chia, thích loại trừ, thích giữ khoảng cách với người tội lỗi – hay chúng ta mang nơi mình ánh mắt của Thiên Chúa, một ánh mắt luôn tìm điều tốt nơi người khác, luôn khơi dậy hy vọng nơi những ai tuyệt vọng, luôn dang tay đón nhận thay vì kết án? Giáo Hội là cộng đoàn của những kẻ được cứu chứ không phải của những người hoàn hảo. Mỗi chúng ta đều là con chiên từng lạc mất, là đồng quan từng bị rơi, và tất cả đều được Thiên Chúa thương xót tìm kiếm và đưa về. Vì thế, khi đã được cứu, ta cũng được mời gọi trở thành những người tiếp nối sứ mạng của Chúa: đi tìm anh chị em đang lạc lối, nâng đỡ người yếu đuối, không ngồi chờ họ quay lại nhưng chủ động lên đường gặp gỡ họ, yêu thương họ, đồng hành với họ. Trong xã hội hôm nay, có biết bao người đang lạc lối: những người trẻ sa vào lối sống buông thả, những người sống trong nghiện ngập, bạo lực, dối trá, những người mất phương hướng vì đổ vỡ gia đình, thất nghiệp, bị bỏ rơi. Họ đang cần ai đó đi tìm, cần ai đó cho họ thấy rằng họ vẫn đáng quý, vẫn có thể làm lại cuộc đời. Và họ cần thấy điều đó nơi chúng ta – những người tin vào lòng thương xót của Chúa. Bài Tin Mừng này cũng mời gọi các gia đình, cộng đoàn, giáo xứ trở thành nơi chốn an toàn cho những ai muốn quay trở về. Một người vợ tha thứ cho chồng, một người cha không từ bỏ con hư, một cộng đoàn không kết án người lầm lỡ – đó là Tin Mừng đang được sống động hóa, là dụ ngôn trở thành thực tại. Càng yêu thương những người yếu đuối, ta càng nên giống Thiên Chúa; càng nâng đỡ người tội lỗi quay về, ta càng làm cho thiên đàng vui mừng. Và chính mỗi người chúng ta, nếu có lỡ bước, cũng hãy nhớ rằng: Thiên Chúa đang tìm ta. Ngài không mệt mỏi, không từ bỏ. Chỉ cần ta mở lòng, dù chỉ là một chút, để ánh sáng tình yêu Người soi rọi, thì Người sẽ thắp đèn lên, sẽ quét nhà, sẽ moi móc cho đến khi tìm thấy linh hồn ta. Hãy để Thiên Chúa tìm thấy ta. Đừng trốn tránh. Đừng tự nhủ rằng mình quá tội lỗi để được tha. Vì không ai là quá xa để bị loại trừ. Với Chúa, ai cũng đáng giá, và tình yêu của Người lớn hơn mọi tội lỗi của nhân loại. Nguyện xin Lời Chúa hôm nay giúp mỗi chúng ta trở về với tình yêu cứu độ, và biết sống như những chứng nhân của lòng thương xót giữa thế giới đầy rẫy định kiến, phán xét và loại trừ.
Lm. Anmai, CSsR
=======================
Suy niệm 3: NHẬN RA LÒNG THƯƠNG XÓT (Lc 15,1-10)
“Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng.”
Kính thưa cộng đoàn,
Bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe nói về lòng thương xót của Thiên Chúa. Chúa Giê-su mời gọi ta nhận ra lòng thương xót để sống theo đường lối Thiên Chúa. Lòng thương xót của Thiên Chúa được mạc khải qua lời rao giảng, hành động và những phép lạ Chúa Giê-su thực hiện. Chúa Giê-su đến trao giới răn mới là giới răn yêu thương. Người dạy yêu thương, tha thứ, quảng đại với tha nhân. Người gặp gỡ những người bị loại trừ, người bệnh tật, người tội lỗi. Cụ thể, nhiều người thu thuế và tội lỗi đến với Chúa Giê-su. Người không từ chối. Ngược lại, Người đón tiếp và ăn uống với họ. Do đó, những người Pha-ri-sêu nói: “Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng.” Hơn nữa, Chúa Giê-su nhiều lần đụng đến những bệnh nhân và chữa lành họ. Như thế, Chúa Giê-su không chỉ dạy sống yêu thương, mà Người còn thực hành tinh thần yêu thương trong cuộc sống.
Qua bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giê-su còn mời gọi con người nhận ra lòng thương xót để trở về với Thiên Chúa. Chúa Giê-su kể hai dụ ngôn: con chiên lạc và đồng bạc bị mất. Cả hai dụ ngôn đều diễn tả chung một nội dung. Con chiên lạc hay đồng tiền bị mất tượng trưng cho những người tội lỗi. Họ đã rời xa lòng thương xót của Thiên Chúa. Nhưng Thiên Chúa dùng mọi cách mời gọi người tội lỗi trờ về. Ngài dùng các ngôn sứ, dùng Lời Chúa, dùng các biến cố trong cuộc sống để dạy dỗ. Ngài kiên trì trong việc tìm kiếm. Khi người tội lỗi biết trở về, Thiên Chúa và cả triều thần thiên quốc hân hoan vui mừng.
Chúng ta là những con người tội lỗi. Thiên Chúa không ruồng bỏ con người. Ngài luôn yêu thương con người. Ngai sai Con Một đến và ở cùng nhân loại cho đến tận thế. Chúa Giê-su ngự trong bí tích Thánh Thể để nuôi dưỡng linh hồn những người tin. Dù con người phạm tội, Thiên Chúa luôn chờ đợi và tha thứ nơi bí tích Hòa Giải. Mỗi người được mời gọi nhận ra thân phận tội lỗi và trở về với lòng thương xót của Thiên Chúa.
Có một câu chuyện về cuộc đời của một thiếu nữ tên Liker với nội dung như sau: Liker phục vụ trong quân đội Anh, nhưng hoàn cảnh đưa đẩy cô trở thành gái mãi dâm. Lúc thành phố Paris được giải phóng sau thế chiến thứ hai, không lâu sau đó, Liker phục vụ những khách hạng sang tại một trong những nơi ăn chơi nổi tiếng nhất của Paris do Patric làm chủ. Trong lúc tận tình giúp đỡ một thiếu nữ khác để khỏi rơi vào hoàn cảnh éo le của mình, Liker đã bắn chết Patric. Cô bị tống giam, nhưng trong cảnh ngục tù, Liker đã gặp các Nữ tu có tên gọi là các chị Bêtania, là Dòng chuyên nâng đỡ những cô gái sa cơ lỡ bước, những người nghiện ngập, những người sống đầu đường xó chợ. Vài nữ tu này trước kia cũng là nạn nhân của xã hội như những người họ đang phục vụ. Mãn hạn tù, Liker xin gia nhập dòng và trở thành một trong các chị Bêtania.
Nữ tu Liker trong câu truyện trên đây là tiêu biểu cho con chiên lạc mà Tin Mừng hôm nay đề cập đến. Nàng đã sa cơ lỡ bước, nhưng Thiên Chúa qua cử chỉ của các chị Bêtania đã đi tìm gặp chị và mời gọi chị trở nên bạn chí thiết của Ngài trong đời sống hiến dâng.
Lạy Chúa, xin cho con nhận ra lòng thương xót của Thiên Chúa và biết trở về với Ngài. A-men.
Jos. Nguyễn
====================
Suy niệm 4: CHỈ CẦN LẶNG YÊN
“Tìm được rồi, người ấy mừng rỡ vác lên vai!”.
Mỗi khi ngã quỵ, bạn đừng quên Thánh Vịnh 46, 11, “Hãy lặng yên và biết rằng, Ta là Chúa!”. Cuối đời, Hudson Taylor, yếu đến mức thều thào, “Tôi yếu đến độ không thể cầu nguyện, không thể đọc Thánh Kinh. Tôi chỉ có thể lặng yên trong tay Chúa, đợi Ngài vác về!”.
Kính thưa Anh Chị em,
“Đợi Ngài vác về!”. Lời cuối của Taylor cũng là chi tiết mà chỉ một mình Luca có trong dụ ngôn Chiên Lạc với những tình tiết thật ly kỳ! Nào ‘người đó vui mừng vác trên vai, đem về nhà’; ‘mời bạn bè, hàng xóm’ chung vui; và nhất là, ‘giữa triều thần, ai nấy vui mừng!’. Phần con chiên, nó ‘chỉ cần lặng yên!’.
Con số “99” biểu tượng cho những ai đã thuộc về Vương Quốc - đại diện cho triều thần thánh; con chiên lạc đại diện cho toàn thể nhân loại, và đại diện cho từng con người lạc lối. Người Chăn Chiên, chính Chúa Giêsu, luôn tìm kiếm một nhân loại sa ngã; trong đó, có bạn và tôi - mỗi người lạc mỗi cách, mỗi kiểu - để vác về. Ngài không đi tìm chiên vì tiếc của hay giận giỗi, nhưng chỉ vì quan tâm và xót thương. Về phần chiên, đừng nổi loạn, nó ‘chỉ cần lặng yên’, vì “Đôi khi điều thiêng liêng nhất bạn có thể làm là nghỉ ngơi!” - Craig Groeschel.
Thông thường, chúng ta có thể rơi vào cạm bẫy khi nghĩ rằng, tôi phải tìm đường trở lại với Chúa bằng những nỗ lực riêng; nhưng sự thật là, Thiên Chúa luôn ngược chiều, Ngài hối hả, dáo dác dõi mắt tìm kiếm mỗi người. “Ân sủng tìm thấy ta ở nơi ta đang ở, nhưng không để ta nguyên chỗ ấy!” - Max Lucado. Thánh Vịnh đáp ca hôm nay nói, “Tôi vững vàng tin tưởng sẽ được thấy ân lộc Chúa ban!”. Ân lộc Chúa ban là niềm tin của người để Chúa kiếm tìm và vác về giữa quãng đường còn xa. Như vậy, “Dù sống, dù chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa” - bài đọc một. Vậy thì còn phải lo chi? ‘Chỉ cần lặng yên’ để Ngài bước tiếp phần đường của chính mỗi người. “Ân sủng là sức mạnh dịu dàng vác ta về nhà khi đôi chân ta không còn bước nổi!” - John Stott.
Anh Chị em,
Như vậy, ‘chỉ cần lặng yên’ không phải là buông xuôi, nhưng là để cho ân sủng hành động. Khi con người thôi vùng vẫy, Thiên Chúa mới có thể ôm lấy và vác về. Chính trong bất lực, chúng ta chạm đến quyền năng cứu độ của Chúa. “Ân sủng tuôn tràn mạnh nhất qua những vỡ vụn của con người!” - Philip Yancey. Vì thế, lặng yên không là trốn chạy, mà là tin rằng, Ngài biết đường về. Như chiên yên ắng trên vai Mục Tử - không cựa quậy, đạp chọi - nó không biết, đó chính là giây phút cứu độ của nó. Nói cách khác, khi linh hồn đã kiệt sức, chẳng còn cầu nguyện, chẳng còn suy tư, chỉ còn lặng yên trong Chúa, thì đó không phải là thất bại, mà là điểm chạm giữa ân sủng và sự bất lực. Ở đó, ơn cứu độ bắt đầu! “Đôi khi Thiên Chúa để bạn chạm đáy, để bạn khám phá ra Ngài chính là Đá Tảng nơi đáy sâu ấy!” - Tony Evans.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, con không xin sức mạnh, chỉ xin ơn bình an, để khi Ngài băng qua sa mạc lòng con, con đủ tin để không cựa quậy, và để Ngài làm phần còn lại!”, Amen.
(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)
=====================
